Menu Đóng

Xuồng Ghe Mùa Lũ

Xuôi dòng Mekông, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, chạy dài gần 100km là 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh (trước đây từ thời Pháp thuộc và sau 1975-1992 chung một tỉnh).

Đây là vùng có hệ thống sông ngòi dày đặc và là nơi có hệ cây ăn trái phong phú nhất ở miền Tây Nam Bộ. Theo một tài liệu khảo sát của người Pháp, trước đây vào năm 1937 ở Vĩnh Long (lúc đó còn cả Trà Vinh, Chợ Lách – Bến Tre, Sa Đéc – Đồng Tháp) cứ trung bình 1km2 đất đai ở đây có một con sông, kênh, rạch. Tỷ lệ này hiện nay có xê dịch đi chút đỉnh nhưng tăng hơn trước do người dân đã tự khai phá thêm để làm ăn sinh sống sau gần 300 năm, từ khi chúa Nguyễn đặt tên cho vùng đất này là Long Hồ Dinh vào năm 1732.

xuongghe

Người dân Vĩnh Long, Trà Vinh cũng như nhiều vùng quê Nam Bộ khác khi lũ về thì đi lại chủ yếu bằng xuồng, ghe. Xuồng ghe đã in đậm vào trí nhớ của người dân nơi đây, cho dù đi xa quê nhà họ vẫn luôn nhớ tới loại phương tiện mà trước họ đã dùng thường xuyên từ đi lại thăm viếng nhau, chở lúa, mạ, phân bón, chợ búa trao đổi… Hiện trong lịch sử đến nay còn tồn tại nhiều khu chợ nổi trên sông mang đậm nét văn hóa vùng đất sông nước này như chợ Quới Thiện (Cù Lao Dài), chợ Trà Ôn (ngã ba sông Hậu), chợ Lục Sĩ (Cù Lao Mây)… Ở các xã, ấp vùng sâu của Bình Minh, Trà Ôn, Mang Thít, Long Hồ, Vũng Liêm còn hàng trăm ngôi chợ sông khác mà “chủ nhân” các chợ này đông đảo nhất cũng là ghe xuồng. Theo một số liệu thống kê của Chi nhánh đăng kiểm Vĩnh Long (Sở Giao thông – Vận tải), tính đến ngày 14/3/1998, toàn tỉnh có 5.745 chiếc tàu ghe lớn, nhỏ loại được gắn động cơ có tải trọng từ 1 đến 15 tấn. Đó là không kể các loại xáng, cạp, phà… Tại Vĩnh Long có 4.034 ghe tải, trong đó có 606 chiếc có trọng tải trên 15 tấn. Ở Trà Vinh lượng tàu, xuồng, ghe còn cao hơn ở Càng Long, Trà Cú, Cầu Kè, Duyên Hải…

Về tàu chở khách (dân địa phương gọi là ghe lớn), toàn tỉnh có 1.057 chiếc để phục vụ đưa khách qua lại các khúc sông, rạch lớn nhỏ hàng ngày. Tỷ lệ dân cư vùng nông thôn hiện nay ở Vĩnh Long có trên 90% dân số sống ở vùng nông thôn, ở vùng dày đặc sông nước. Nhu cầu đi lại về xuồng là rất lớn. Một lần về vùng Cù Lao Mây trên sông Hậu (giữa Trà Vinh và Vĩnh Long) hỏi chuyện các cụ già cao tuổi, ai cũng cho hay lớn lên là đã thấy xuồng rồi. Chiếc xuồng đã gắn bó với vùng quê sông nước miền Tây như gắn bó với cuộc đời họ từ lúc sinh ra, lớn lên, biết đi lại, học hành, xe duyên thành vợ thành chồng. Nhiều cụ già vùng Cù Lao Mây, Cù Lao Dài cho là sinh ra họ đã nằm trong xuồng rồi, đi học, đi chơi, đi chữa bệnh, đi đám cưới, đám hỏi, thăm viếng nhaụ.., mọi việc đều được xuồng chở đi – về. Xuồng vùng sông nước thủy chung với con người chặt bền như tấm áo mảnh khăn đã sản sinh ra một vùng đất, một vùng người mang đậm tính Nam Bộ rất riêng biệt.

Những cư dân đầu tiên đã vào vùng đất này định cư từ rất sớm, trước cả khi chúa Nguyễn đặt tên vùng đất này là Long Hồ Dinh năm 1732. Tài liệu sử học cho biết, vào khoảng các năm 1658-1669, khi chúa Trịnh ra lệnh cưỡng bức di dân vào Nam để mở rộng ảnh hưởng và đất đai, đã có nhiều đoàn dân đi vào cư trú và khai thác ở các vùng đất sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu. Những người dân di cư xa lạ với đất, nước, khí hậu mới mẻ của vùng sông nước Nam Bộ, và nhất là kênh rạch chằng chịt nơi đây đã buộc họ phải đóng xuồng qua sông, rạch để khai phá, làm ăn, sinh sống. Từ chỗ mỗi nhà dân đều có chiếc xuồng rồi khi thiếu lại phải đóng thêm mới đủ cho cả gia đình đi lại. Bởi vậy người dân ở vùng sông nước này, ai cũng biết chèo xuồng, lái xuồng rất thành thạo, từ các cụ già lớn tuổi đến cả đứa trẻ nhỏ mới lớn.

Xuồng được người dân Vĩnh Long, Trà Vinh phân làm 3 loại: xuồng ba lá, xuồng năm lá, xuồng tam bản. Loại xuồng tam bản là loại lớn hơn chút đỉnh, chở được từ 15 đến 20 giạ lúa. Trước đây xuồng chỉ có một chèo, sau này để đi lại nhanh, người dân vùng sông nước này chế thêm một chiếc chèo nữa, mỗi xuồng tam bản phổ biến là 2 chiếc chèo. Xuồng bơi là loại lớn hơn xuồng ba lá chút ít. Xuồng tam bản khác xuồng ba lá là đáy của xuồng tam bản cong còn xuồng ba lá đáy bằng, xuồng tam bản mũi tròn, nhiều mảnh ván be lại (thường từ 5, 7, 9 lá ván đóng kết lại).

Ngoài xuồng, ở các vùng có nhiều mương nhỏ lại có loại phương tiện di chuyển gọi là “chẹt”. Chẹt có kích thước nhỏ gọn để di chuyển qua các khúc mương nhỏ. Thường bề ngang mỗi chiếc từ 0,5m, có độ dài 1m – 1,5m. Loại ván gỗ làm chẹt cũng là loại rẻ tiền, thường là gỗ mù u có sẵn trong vườn. Cây chèo của chẹt thường bằng gỗ sao để có độ chắc, bền và đẩy chẹt đi được nhanh.

Ở Vĩnh Long, Trà Vinh từ xưa đến nay xuồng ghe đi lại trên nước chủ yếu do các trại ghe xuồng ở các huyện trong tỉnh làm ra. Trước đây, trại ghe rất phổ biến dọc các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, sông Măng… Hiện trên địa bàn mỗi huyện còn 5-7 trại đóng ghe xuồng. Nhiều trại ghe nổi tiếng được truyền từ đời này sang đời khác như các trại ghe còn sung đạt trong vùng đất Trà Ôn, Vũng Liêm từ rất lâu đời: trại ghe Năm Danh, Phước Thành, Năm Sên, Thanh Hải (Trà Ôn), Hòa Hiệp tại Cầu Mới, trại ghe ấp Thanh Vân và Thanh Khê ở xã Thanh Bình (Vũng Liêm), và các trại ghe ở Trà Cú, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng Long của tỉnh Trà Vinh.

Ghe, xuồng – phương tiện đi lại ở vùng sông nước Nam Bộ từ rất lâu đời đã kết gắn cả cộng đồng người Việt trong sự nghiệp khai khẩn, mở mang vùng đất Nam Bộ phì nhiêu. Ngày nay ghe xuồng vẫn cùng với người dân vùng đất Nam Bộ nói chung và Vĩnh Long nói riêng viết tiếp trang sử vàng mà cha ông ta để lại.

Xuồng, ghe đi lại đã sống cùng cốt cách sông nước con người miền Tây, nơi đây, bà con ở xa quê hương cứ nhớ mãi những trại cây, bóng nước, bóng hình những chiếc xuồng ba lá… thành hồn thơ lưu mãi của người dân vùng sông nước miền Tây qua bao năm tháng sinh thành:

“… Những hạt cát liền nhau thành xứ sở
Thành những ven sông, bến chợ, sân trường…”

Phạm Bá Nhiễu
Nguồn:suutap.com

Posted in Đời sống

Bài tham khảo