Chuyện làng quê, tưởng chừng giản dị, lại ẩn chứa những sóng gió khó lường trong đời sống vợ chồng Tư Hưng. Tiếng cãi vã triền miên cùng sự lơ đễnh của bầy heo đã đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm, buộc ông Hai Kiểm, người mai mối, phải ra tay dàn xếp. Từ đây, những triết lý nhân sinh về duyên nợ, trách nhiệm và sự đời được hé mở qua câu chuyện gác cu, mang đến cái nhìn sâu sắc về lẽ sống ở đời.
Duyên nợ và gánh nặng cuộc đời
Tiếng la ó của hàng xóm vang dội cả xóm nhỏ, đầy vẻ bức xúc: “Tư Hưng đâu rồi! Nuôi cả bầy heo mà để chúng chạy tán loạn khắp đường sá. Sao không nhốt lại cho cẩn thận?” Sự lơ đễnh của Tư Hưng khiến cả xóm chịu trận với mùi tanh hôi nồng nặc và những bãi phân bừa bãi. Lũ heo không chỉ phá phách nền nhà, ủi tung luống cải mà còn gieo rắc sự khó chịu, khiến mọi người muốn trách móc nhưng lại ngại gây mích lòng, chỉ đành ôm ấm ức trong bụng.
Tư Hưng tất tả chạy về từ đầu xóm, gương mặt bối rối vội vàng thanh minh: “Bà con ơi! Tôi đã nhốt heo lại rồi. Chắc là vợ tôi quên đóng chuồng… Vợ tôi dại dột thì tôi xin chịu tội thay.” Nói đoạn, anh ta hối hả lùa ba con heo nái đang chạy tán loạn. Lũ heo hoảng sợ đâm sầm vào vách lá, rồi chui tọt vào trong nhà. Anh ta cuống quýt gọi vọng vào: “Em ơi! Coi chừng heo chạy bể đồ đạc mất!” Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng chết chóc. Vào nhà, Tư Hưng chạy ra trước cửa ngõ nhìn dáo dác khắp nơi, lòng dấy lên nỗi hoang mang. Vợ anh đâu rồi? Hay cô ấy đã xách gói trở về nhà cha mẹ ruột? Suốt bốn tháng qua, vợ chồng anh ta liên tục cãi vã, cứ như thể hai ngày lại xảy ra một trận xích mích. Tư Hưng buông lời bực dọc: “Đi đâu thì đi phứt cho rảnh nợ. Gặp phải người vợ thế này thì nhanh tàn mạt lắm. Thật là…”
Vừa lúc đó, ông Hai Kiểm, người có uy tín trong làng, đi ngang qua, cất tiếng hỏi: “Chuyện gì đó Hưng? Vợ chồng mới cưới, có gì cơm không lành canh không ngọt thì đóng cửa bảo ban nhau…” Tư Hưng vội đáp: “Dạ, chuyện rắc rối lắm, đổ bể tùm lum hết bác ạ.” “Cái gì đổ bể? Cháu nói mau!” Ông Hai Kiểm sa sầm nét mặt, linh cảm những hậu quả tai hại mà ông sẽ phải gánh chịu. Chính ông là người đã đứng ra làm mai mối cho Tư Hưng cưới vợ, khi bên nhà gái thách cưới đôi bông búp, hai chiếc vòng vàng đúng một lượng. Dù chỉ là người dưng, vì muốn tác hợp cho đôi trẻ, ông Hai Kiểm đã “làm gan” đứng ra lãnh nợ, vay giúp gia đình Tư Hưng một số tiền lớn. Khi chủ nợ băn khoăn: “Rồi làm sao vợ chồng nó đủ sức trả?”, ông Hai Kiểm đã quả quyết: “Vợ chồng nó sẽ nuôi heo nái, bán heo con lần hồi.” Giờ đây, những chuyện đáng buồn liên tiếp xảy ra, khiến ông Hai Kiểm đứng ngồi không yên. Dư luận hàng xóm đã xôn xao đồn đãi quá nhiều. Mới ban nãy, ông gặp người vợ trẻ của Tư Hưng ở bờ chuối ven đường. Ông hỏi: “Cháu đang làm gì vậy?” Cô vợ trẻ đáp: “Dạ, cháu đang cắt lá chuối khô đem về bó lại, làm ụ cho heo ngủ ạ.” “Cháu biết lo xa như vậy, bác mừng lắm. Xứ này nhiều muỗi, để heo ngủ trần thì tội nghiệp chúng, làm sao mà heo mau lớn đúng tạ được? Sao thằng Hưng không ra đây phụ giúp cháu?” Nghe vậy, cô vợ trẻ ôm mặt khóc nức nở. Lúc ấy, ông Hai Kiểm mới nhìn tường tận, thấy gò má cô bầm tím. Ông thở dài, định đi tìm Tư Hưng để răn dạy. Nào ngờ, vừa đi ngang cửa nhà Tư Hưng đã nghe thấy giọng nói vô lễ của anh ta. Ông Hai Kiểm bước vào sân, lẩm bẩm: “Làm gì mà quát nạt ầm ĩ vậy? Cái gì đổ bể?” “Dạ, mời bác vào nhà, cháu sẽ kể hết đầu đuôi cho bác nghe.” Rồi Tư Hưng tố cáo vợ bao nhiêu sự lơ đễnh: nào là vợ ngủ trưa, nào là kho cá ăn mặn đắng, nào là lười biếng trong việc nuôi heo, và đặc biệt là hay cãi vã với chồng. Hễ giận hờn là cô vợ lại bỏ ra sau vườn. Ông Hai Kiểm dùng tình cảm để khuyên nhủ: “Con bé nó lo cắt lá chuối khô chứ đâu phải dạo xóm ngồi lê đôi mách hay đánh bài tứ sắc. Cháu hãy bình tĩnh. Vợ có lỗi thì răn dạy bằng lời nói nhỏ nhẹ.” Tư Hưng nhanh nhảu đáp: “Dạ, nó cứng đầu lắm bác ạ. Hễ cháu đánh thì nó cứ đứng lì một chỗ, không thèm chạy.” “Ừ… Nhưng mà cháu đừng đánh ngay vào mắt vợ nhé.” Tư Hưng ngạc nhiên, thầm phục sự tinh tường của ông Hai Kiểm: “Sao bác biết ạ?” “Trời đất xui khiến sao đó, bác sống tới năm nay sáu chục tuổi rồi. Đàn ông thường có thói quen bạt tai vợ, táng ngay vào mắt. Lỡ mà đui mù thì sao?”
Bốn cái ngu trên đời và triết lý người mai mối
Tiếng “Cục cu cu… cu! Cu!” cất lên thánh thót. Ông Hai Kiểm bước tới lui, say sưa ngắm nghía con cu mồi vừa mua ở Xẹo Bần với giá mười giạ lúa. Ông bắc ghế, đeo cặp kính lão, thì thầm: “Ồ! Con cu hai cốt. Chưa chắc! Hôm nọ, nó gáy tới bốn cốt kia mà.” Rồi ông đưa tay lên miệng, bụm lại, nhái giọng gáy: “Cục cú cu… cu!” Lập tức, con cu mồi nhảy nhót, vỗ cánh, như muốn bay thoát khỏi chiếc lồng tre. Nó đứng lại, há mỏ, ưỡn ngực: “Cục cúc cu… cu! Cu! Cu!” Ông Hai Kiểm bật cười giòn giã: “Giỏi quá! Đã trót làm thằng ngu thì cứ ngu luôn cho trọn kiếp. Sáng mai, mày nhớ gáy đủ bốn cốt cho tao!” Từ ngoài cửa, Tư Hưng bước vào. Anh ta nghe lỏm tiếng được tiếng mất: “Bác Hai ơi! Bác đang nói chuyện với ai vậy ạ?” “Tư Hưng đó hả? Bác đang nói chuyện với con cu mồi. Gần Tết rồi, tiếng cu gáy vang dậy ngoài đồng, bác tính cho con cu mồi này ra nghề. Mua tới mười giạ lúa đó.” Tư Hưng vẫn thắc mắc: “Con cu này mua quá mắc, nhưng tại sao lại ngu dại như vậy? Nếu nó khờ thì bác luyện tập lại chứ. Bác rành nghề gác cu lắm mà.” Đây là một dịp may hiếm có để ông Hai Kiểm giải tỏa bao nhiêu thắc mắc bấy lâu. Ông rót nước trà, ngồi cao hứng rung đùi, bắt đầu đọc: “Ở đời có bốn cái ngu, làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu…” “Mấy câu đó có ý nghĩa như thế nào vậy bác?” Tư Hưng tò mò hỏi. “Khó lắm, nói ra sợ cháu hiểu lầm. Ông bà mình ngày xưa đặt câu đó, nhắn nhủ những người lớn tuổi mà hay làm chuyện “ba vơ” như bác đây. Cháu thử nghĩ xem: bác ở không suốt ngày, chỉ còn biết tiêu khiển bằng cách thăm viếng chòm xóm, giúp đỡ lặt vặt, rồi thì dưỡng nhàn. Cháu có biết tại sao làm mai lại là cái ngu dại thứ nhất không?” Tư Hưng đáp: “Dạ cháu chỉ hiểu mơ màng thôi ạ…” “Nói ra, cháu đừng giận nhé. Mình làm mai, giúp hai gia đình bên trai, bên gái kết tình thông gia. Nếu con cái họ ăn ở êm ấm thì thôi. Nhưng nhược bằng gặp phải thứ trai lỗ mãng, thứ gái lười biếng hỗn hào thì thế nào bên trai hay bên gái cũng trách móc ông mai. Nào là thằng rể, con dâu đó tệ quá. Không khéo, vài ngày nữa, nếu vợ chồng cháu chưa hòa thuận được…” Tư Hưng cúi đầu: “Dạ, cháu hứa sẽ sửa đổi ạ.” “Đây là cái ngu thứ nhì của những người già cả, có chút thể diện hoặc điền sản như bác. Mình lãnh nợ giùm cho thiên hạ, nếu con nợ trả đủ thì chủ nợ vui sướng, hưởng tiền lời. Bằng không, họ lại mắng vốn… Còn cái ngu thứ ba là gác cu.” Nghe đến đó, Tư Hưng mỉm cười. Gác cu tức là đem con cu mồi ra ngoài ruộng để nó gáy lên, nhử bắt con cu rừng. Mấy ông cai tổng, ông hội đồng địa hạt thường gác cu vào mùa này. Tư Hưng còn nhớ năm ngoái ông cai tổng đi gác cu với vài đứa tiểu đồng, mang theo nào bình trà ấm, thịt gà, cơm nếp. “Tại sao gác cu lại là cái ngu dại thứ ba vậy bác?” Anh ta hỏi mãi nhưng ông Hai Kiểm chỉ lắc đầu. Sau rốt, anh ta gợi ý: “Dạo này, hễ ở nhà thì gây gổ với vợ. Cháu muốn theo bác làm đứa tiểu đồng để học nghề. Hồi đó tới giờ, cháu chỉ ưa đá gà, đá cá thia thia. Mai mốt về già, cháu sẽ gác cu như bác.” “Đừng, cháu ơi. Dại dột lắm.” Con cu mồi gáy vang lên. Ngoài bờ tre xa xôi dường như có tiếng đáp lại, khiêu khích: “Cu kêu ba tiếng cu kêu, cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè.” Ông Hai Kiểm căn dặn Tư Hưng nên về nhà giúp vợ những công việc lặt vặt cho vợ bớt mệt, nhất là sửa sang các chuồng heo, đừng để hàng xóm phiền hà nữa.
Chuyến đi gác cu và bài học về sự kiên nhẫn
Sáng hôm sau, Tư Hưng đã có mặt tại nhà ông Hai Kiểm từ sớm. Hai người ăn vội bát cơm rang lót dạ rồi lên đường. Ông Hai Kiểm đi trước, tay xách chiếc lụp – một cái lồng bằng dây chì có đặt sẵn con cu mồi bên trong. Tư Hưng theo sau, vác cây sào dài với móc sắt nhỏ ở đầu, cùng bình tích trà nóng, hộp quẹt và chiếc chiếu. Gió chướng thổi lao xao, mang theo hơi lạnh từ phía tây bắc, báo hiệu ngày Tết đang cận kề. Mặt trời đã lên cao nhưng bầu trời vẫn chưa trong sáng, vài đám mây đen còn lởn vởn, dường như vương vãi những hạt mưa còn sót lại. Mùi lúa chín thoảng bay, vừa nồng vừa ấm. Vượt qua bờ ven, hai người xắn quần lên tận gối. Lá lúa cứa vào da hơi rát, đôi khi bùn lún ngập đến nửa ống chân. Vài con cò trắng đáp xuống vũng nước cạn, lặng lẽ rình mồi cá tôm. Ông Hai Kiểm bước khá nhanh, đôi mắt nhìn đăm đăm về hướng cây gáo cổ thụ sừng sững giữa đồng. Đến nơi, Tư Hưng đứng lóng ngóng. Ông Hai Kiểm căn dặn: “Trải chiếu ra, ngồi xuống đi. Nếu khát nước thì uống trà cho thấm giọng. Cháu trèo lên cây gáo, bẻ vài nhánh cây nhỏ, quăng xuống đây cho bác.” Ông Hai Kiểm liền lấy lá cây ghim lên chiếc lụp: “Làm như vậy để con cu rừng không nhìn thấy cái lồng bằng dây chì. Lát nữa, cu rừng sẽ bay tới, đậu trên cái sàn trước mặt lụp.” “Còn mớ lưới này thì sao ạ?” Tư Hưng hỏi. “Mình giương lưới lên, gài chốt. Khi cu rừng đến trước mặt lụp để khiêu chiến, nếu nó đạp nhằm cây chốt, lưới sẽ chụp xuống cái sàn, tóm gọn con cu rừng.” Xong xuôi đâu đó, ông Hai Kiểm dùng cây sào có móc sắt đưa chiếc lụp lên gần ngọn cây gáo. Ông lùi ra xa, nhìn ngắm đôi ba lần rồi hài lòng khen ngợi: “Được rồi! Cu rừng chẳng bao giờ biết con cu mồi đang bị nhốt trong lụp, và trước mặt lụp là cái sàn nhỏ có lưới giương lên. Êm lắm!” Hai người rút lui vào lùm cây mua thấp, vạch một lỗ khá to rồi chui vào ẩn nấp. Tư Hưng nhanh nhảu nói: “Giống như ngồi trong hang vậy bác…” “Ồ! Người gác cu phải ngồi ngoài bờ ngoài bụi như vậy chứ. Nếu đứng lom khom ở chỗ trống trải, cu rừng đâu thèm tới nạp mạng.” Ngồi giữa lùm cây, ông Hai Kiểm hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Con cu mồi trong lụp bắt đầu gáy vang: “Cúc cù cu… cu! Cu! Cu!” Ông cười giòn: “Giỏi quá! Ra đây, nó gáy tới ba cốt.” Tư Hưng tò mò hỏi: “Dạ, cốt là cái gì ạ?” “Theo tiếng lóng của nhà nghề, mấy tiếng ‘cúc cú cu’ gọi là tiếng cốt. Con cu mồi này gáy ba cốt. Bảnh quá! Cháu nghe lại thử. Nó gáy kìa!” Từ ngọn cây gáo, con cu mồi cất tiếng thảnh thót: “Cúc cù cu… cu! Cu! Cu!” Ông Hai Kiểm nhướng mắt: “Đó… Nó gáy đủ bốn cốt rồi. Loại cu nào nhiều cốt thì được cu mái say mê. Lúc lúa chín, cu rừng bắt đầu ‘phân đồng’, mỗi con cu trống chiếm một khu vực riêng biệt, từ cây này qua bờ tre bên kia, tha hồ ăn lúa chín và tình tự với bọn cu mái. Nếu con cu trống nào toan vào khu vực của nó, nó sẽ đánh đuổi, đá và cắn tơi bời. Thí dụ như khu vực này, từ cây gáo qua bờ tre, đã có sẵn một con cu trống làm bá chủ. Mình đem con cu mồi này tới để xâm chiếm. Lát nữa, con cu trống sẽ ra tranh cắn, đánh đuổi con cu mồi này để rồi bị lưới chụp xuống.” Thời khắc trôi qua chậm chạp. Tư Hưng bắt đầu nản chí, muốn xin phép rút lui về nhà để… nuôi heo trả nợ đám cưới. Bỗng đâu từ phía bờ tre đối diện, có giọng gáy thanh tao: “Cúc cù cu… cu cu!” Ông Hai Kiểm ngồi nhổm tới, nép sát vào bụi cây mua, đeo kính, nhìn qua kẽ lá: “Đó! Con cu rừng lên tiếng, đòi đá lộn với con cu mồi của bác rồi.” “Sao nó chưa qua vậy bác?” “Cháu nên bền chí. Cu rừng khôn ngoan lắm. Nó còn nghi ngại điều gì đó bất an. Nhiều con cu rừng đã từng bị lưới chụp hụt vài trận rồi, nên nó còn dè dặt, dò xét tình hình.” Trên ngọn cây, cu mồi gáy lên, thúc giục: “Cú cù cu… cu! Cu! Cu!” Từ phía bờ tre, cu rừng bay nhanh qua cây gáo, đảo hai ba vòng, toan đáp xuống. Tư Hưng nói: “Nó tìm kẻ thù hả bác?” “Nói chuyện nhỏ thôi. Coi chừng nó nghe. Nó tìm kẻ tình địch. Con cu rừng này cho rằng con cu mồi trong bụi là kẻ từ nơi xa lạ đến xâm chiếm cánh đồng lúa để ăn no và chiếm đoạt người yêu của nó.” “Tại sao nó lại bay qua đây? Hồi nãy bác nói con cu rừng này đầy đủ kinh nghiệm, chết hụt nhiều lần nên khôn ngoan…” “Lời tục thường nói: ‘Biết chết nhưng cũng nhào vô.’ Con chim ghét nhau vì tiếng gáy. Cu rừng gáy hai cốt ghét con cu mồi gáy tới bốn cốt. Nó cho rằng có kẻ bảnh trai hơn, toan chiếm đoạt sự sống của nó… Im đi.” Qua kẽ lá, Tư Hưng thấy rõ ràng con cu rừng. Nó thuộc loại cu cườm, mớ lông chung quanh cổ nhuộm màu hường dợt, lấm tấm những điểm trắng tuyết, mỏ và đôi chân đỏ sậm, đặc biệt là đôi mắt tròn xoe, sáng ngời lấp lánh như giọt máu tươi. “Nó khôn quá! Nó nhảy trên nóc lụp chứ không thèm nhảy trước cái sàn để vướng vào bẫy!” Tư Hưng reo lên. “Cháu nói đúng. Nhưng con cu mồi của bác còn khôn hơn!” Con cu mồi nhảy nhót, vỗ cánh ngược lên trời… nhưng bầu trời của nó quá hẹp, nó té xuống. Nó bước tới sát lưới, quơ chân. Cu đá nhau như gà, dùng mỏ mà cắn, đưa chân mà quào. Con cu rừng cứ bay quanh quẩn rồi đứng trên lụp mổ xuống, để khỏi sa vào cạm bẫy. Lát sau, nó bay lên trên cao… rồi trở qua bờ tre gáy inh ỏi, thứ tiếng gáy kém đẹp, chỉ có hai cốt “cu, cu” khi chấm dứt. Ông Hai Kiểm đưa tay lên miệng, nhái tiếng gáy để thúc giục cu mồi. Cu mồi lại gáy, khoe giọng thiên phú, đủ bốn cốt. Nắng lên cao. Cu rừng dường như vẫn còn phân vân, chưa chịu xáp chiến. Tư Hưng thở dài: “Chừng nào nó mới bay qua đây…” Ông Hai Kiểm đáp: “Bữa nay không xong thì chờ ngày mai, ngày mốt không xong thì ngày nọ, ngày kia… Gác được một con cu rừng khôn ngoan, mình vui hơn là gác con cu rừng thứ dại dột. Cháu mệt mỏi rồi hả?”
Tư Hưng ngáp dài: “Để cháu về nhà, lo cái chuồng heo cho vợ ạ.” “Cháu muốn về thì cứ về. Bác không dám cản cháu đâu.” Nghe vậy, Tư Hưng lật đật cầm cây sào, bước ra khỏi lùm cây. Ông Hai Kiểm kêu lên thất thanh: “Làm gì vậy? Cháu về thì về một mình thôi. Để bác ở lại đây…”
Tỉnh ngộ từ những “cái ngu”
Bảy ngày sau, Tư Hưng gần như quên bẵng chuyện gác cu của ông Hai Kiểm. Hàng ngày, anh ta chăm lo nuôi heo, quét dọn nhà cửa, sửa sang bồ đựng lúa. Vợ chồng anh nay đã đối xử với nhau êm ấm, hòa thuận. Lúc vợ chồng Tư Hưng đang ăn cơm chiều, bà Hai Kiểm hớt hải chạy vào sân, giọng đầy lo lắng: “Tư ơi! Mày có thấy ông Hai đâu không?” Ngoài trời mưa phùn lất phất, không khí se lạnh, trận mưa bấc dai dẳng vẫn còn vương vấn. Tư Hưng nhìn bà Hai Kiểm với ánh mắt xót xa: “Chuyện gì mà bác gái dầm mưa vậy? Lâu rồi cháu không gặp bác trai.” “Ông ấy đi gác cu với mày mà! Mỗi ngày ông đều đi, từ bữa đi chung với mày đó.” “Dạ, cháu chỉ theo bác trai có một buổi đầu mà thôi…” “Kiếm bác trai mày giùm tao! Tao hồ nghi quá.” Lập tức, Tư Hưng buông chén đũa, chạy ra sau vườn. Trời vẫn mưa. Mặt trời đã khuất dạng, cảnh vật tối om. Cây gáo đứng trơ vơ giữa đồng như một bóng ma trơi. Tư Hưng lục soát kỹ lưỡng trong bụi cây nhưng chẳng thấy chiếc lụp nào. Thất vọng, Tư Hưng quay trở về. Bỗng dưng, anh ta chợt nhớ tới bờ tre bên kia, đối diện với cây gáo. Anh ta chạy qua, nhướng mắt nhìn: giữa bụi tre, chiếc lụp gác lơ lửng, trên đó có cả con cu mồi và một con cu rừng đã bị lưới chụp. Cả cu rừng và cu mồi đều rũ rượi, bất phân thắng bại, lông cánh lù xù vì dầm mưa quá lâu. Nhưng ông Hai Kiểm ở đâu? Tư Hưng định kêu lên nhưng lại sợ làm lộ bí mật nhà nghề. Anh ta bèn đưa hai tay lên miệng, bụm lại, nhái tiếng cu kêu: “Cúc cù cu… cu! Cu! Cu!” Bỗng nhiên, bụi nhãn lồng nhúc nhích. Có tiếng rên hừ hừ khe khẽ. Tư Hưng giật mình ngỡ là ma nhát, sửa soạn co chân tẩu thoát. Nhưng giọng run rẩy của ông Hai Kiểm vang ra từng đọt lá: “Cứu… tao… tao gần chết… á khẩu…” Tư Hưng cõng ông Hai Kiểm vào nhà, nhanh chóng đốt lửa hơ, cạo gió, mua thuốc cảm mạo, nấu cháo thương hàn. Vài phút sau, ông Kiểm mới dần tỉnh táo, nói thân mật: “Tao chờ đợi… mắc mưa suốt buổi. Con cu mồi gáy hay quá. Rốt cuộc con cu rừng chịu đá lộn, mặc dù bị gài bẫy nhưng cũng đá. Vui quá… Ủa! Ngu quá. Con cu rừng đó, tao cho vợ chồng bây nướng ăn. Hồi xưa, nhiều người đi gác cu như tao, ngồi rình mò mà dè đâu phía sau lưng có con cọp đang chờ ăn thịt họ. Gác cu không đem lại lợi lộc gì ráo mà mình vẫn ham. Cái thói phong lưu đó nguy hiểm lắm. Nếu mày không ra ngoài cứu kịp thì tao đã á khẩu, chết luôn ngoài bụi tre rồi. Đó là cái ngu thứ ba: ‘Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu’ mà!” Tư Hưng mỉm cười, nhắc đến cái ngu thứ nhất, thứ nhì: “Dạ, hai vợ chồng cháu dạo này đề huề lắm bác ạ. Ba con heo nái đang có chửa, món nợ mà bác bảo lãnh hồi cháu sửa soạn cưới vợ…” “Tao hiểu rồi. Ráng mà làm ăn. Thôi tao về kẻo bác gái mày trông đợi.” “Dạ, trời còn mưa lai rai. Để cháu nhắn tin cho bác gái hay… Còn cái ngu thứ tư nó ra làm sao vậy bác?” “Cầm chầu hát bội. Rằm tháng Giêng, cháu sẽ thấy. Hễ mình ít ‘chầu’ bọn đào kép sẽ cho rằng mình là thằng già cầm chầu khó khăn, phách lối, khinh khi kẻ xướng ca vô loại. Nhưng nếu mình đánh chầu đúng điệu thì lại có kẻ gièm siểm, cho rằng mình là thằng già dê, cứ đánh chấm khen ngợi mấy cô đào trẻ mà quên mấy cô đào già.” Tư Hưng nắm bàn tay gân guốc của ông Hai Kiểm: “Bác tử tế quá.” “Sao mày biết? Đừng nịnh tao. Vợ chồng mày nên ăn ở thuận thảo đi.” Giọng Tư Hưng như ngậm ngùi, đầy kính phục: “Bác dám lãnh đủ bốn cái ngu trên đời… Không màng tiếng bấc, tiếng chì. Cái tiêu khiển của bác không làm hại cho ai. Và bác dám gánh trách nhiệm để cho kẻ khác vui sướng. Cháu phục mấy ông già xưa quá trời.”
