Vùng đất Nam Bộ trù phú, hiền hòa, tưởng chừng được thiên nhiên ưu ái quanh năm. Thế nhưng, ký ức về “Năm Thìn bão lụt” với những trận đại hồng thủy kinh hoàng vẫn hằn sâu trong tâm trí bao thế hệ, trở thành nỗi ám ảnh được lưu truyền qua những câu ca dao, tục ngữ. Đặc biệt, sự kiện năm Giáp Thìn 1904 đã ghi dấu một thảm họa thiên tai tàn khốc, cướp đi sinh mạng và tài sản vô số người dân.
Năm Thìn bão lụt: Những trận đại hồng thủy khắc nghiệt
Nam Bộ, vùng châu thổ được thiên nhiên ban tặng sự ưu đãi với khí hậu mưa thuận gió hòa, đất đai màu mỡ. Có lẽ chính vì lẽ đó, những sự kiện thiên tai như “Năm Thìn bão lụt” (điển hình là các năm 1904 và 1952) đã in hằn một cách đặc biệt sâu đậm trong tâm thức người dân. Không phải ngẫu nhiên mà cho đến ngày nay, các bậc lão nông vẫn không ngừng nhắc lại ký ức kinh hoàng về những trận lũ lịch sử, được truyền tụng qua hàng thế kỷ. Lời truyền khẩu, cùng những câu dân ca mộc mạc, đều lặp đi lặp lại những trận lụt lớn xảy ra trùng vào năm con Rồng, gây nên thiệt hại to lớn về sinh mạng và tài sản của cư dân miền Nam thuở ấy.
Nỗi đau và sự mất mát trong những trận lụt năm Thìn đã đi sâu vào tâm khảm, trở thành một phần của văn hóa dân gian, được thể hiện qua những câu hát thấm đẫm cảm xúc:
Gặp em đây, mới biết em còn
Hồi năm Thìn bão lụt, anh khóc mòn con ngươi
Giáp Thìn 1904: Đại hồng thủy kinh hoàng đầu thế kỷ
Trận đại hồng thủy kinh hoàng ập đến vùng châu thổ sông Mekong vào đầu thế kỷ XX chính là cơn bão lụt năm 1904, tức năm Giáp Thìn. Theo lời kể của các cụ già, một trận mưa bão khủng khiếp đã kéo dài suốt ngày 13 tháng 3 âm lịch, khiến trời đất tối sầm, không gian u ám bao trùm. Lời ca dao cổ vẫn còn vang vọng đến ngày nay, ghi lại khoảnh khắc đầy ám ảnh đó:
Tháng ba, mười ba còn ghi
Nhựt thực giờ Ngọ, vậy thì tối tăm
Nước mưa trút xuống không ngớt, nhấn chìm mọi cánh đồng và làng mạc. Đến ngày 16 tháng 3 âm lịch (tức ngày 1 tháng 5 dương lịch), đúng vào kỳ nước triều cường ở biển Đông, một trận bão lớn bất ngờ xuất hiện. Một giả thuyết cho rằng có thể là một trận động đất ngoài khơi khu vực biển Tiền Giang hiện nay, đã khiến nước biển đột ngột dâng cao, cuộn thành những đợt sóng bạc đầu cao hơn 3 mét rồi ồ ạt tràn sâu vào đất liền. Những con sóng hung dữ cuốn phăng vô số nhà cửa, cướp đi sinh mạng con người và hủy hoại hoa màu. Liên tiếp đến ngày 23 tháng 3 âm lịch, nước lũ trên hai nhánh sông Tiền và sông Hậu lại dâng lên mạnh mẽ, tạo nên thảm cảnh kép:
Hăm ba còn tái gió dông
Rồng kia lấy nước hai ông rõ ràng
Thiệt hại lan rộng: Từ nhà cửa đến cơ sở hạ tầng
Thiệt hại nặng nề nhất của trận bão lụt năm Giáp Thìn 1904 tập trung chủ yếu ở các vùng Gia Định, Gò Công, Tân An và Mỹ Tho. Đây là một hiện tượng thời tiết vô cùng bất thường, bởi lẽ miền Nam thường chỉ phải đối mặt với bão hoặc ảnh hưởng của bão vào những tháng cuối năm, rất hiếm khi xảy ra vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa như vậy. Những ghi chép cổ và lời truyền miệng cũng cho thấy trong cùng năm Giáp Thìn 1904, nhiều tỉnh miền Trung như Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An cũng hứng chịu những trận bão lụt gây thương vong lớn cho người dân ven biển.
Theo phân tích của các nhà khoa học, trận bão lụt năm Giáp Thìn 1904 thực chất có tính chất tương tự sóng thần, với địa bàn ảnh hưởng rộng khắp Việt Nam và lan sang cả Campuchia. Mức độ tàn phá được mô tả chi tiết qua những vần thơ:
Mỹ Tho, Cửa Tiểu ba đào,
Bến Tre, Cần Giuộc, Vũng Tàu, Đồng Tranh.
Cần Giờ, Bà Rịa chung quanh,
Thảy đều hư hại đành rành chẳng sai.
Vĩnh Long, Sa Đéc một vài,
Cần Thơ cây ngã, lầu đài vô can
Sau trận đại hồng thủy Giáp Thìn 1904, lịch sử Nam Bộ còn ghi nhận nhiều năm Thìn khác cũng xảy ra bão lụt lớn gây thảm họa cho người dân, như năm Nhâm Thìn 1952, Giáp Thìn 1964, Bính Thìn 1976 và Canh Thìn 2000. Những sự kiện này càng khẳng định nỗi ám ảnh về “Năm Thìn bão lụt” không phải là ngẫu nhiên.
Vì đã quen với cuộc sống trên vùng đất quanh năm hiền hòa, ít khi phải đối mặt với sự nổi giận của thiên nhiên, người dân Nam Bộ dường như có phần chủ quan. Thêm vào đó, họ cũng thiếu kinh nghiệm đối phó với những trận bão lũ lớn. Chính vì vậy, thiệt hại của cơn bão năm Giáp Thìn 1904 là cực kỳ nghiêm trọng. Nhà cửa tan hoang, bờ ao ruộng lúa bị vỡ, gia cầm, gia súc bị cuốn trôi không còn gì.
Trong hương doanh ngập hết cửa nhà
Ngoài viên địa gãy tan xoài mít
Ở góc độ xã hội, thiệt hại về cơ sở vật chất cũng vô cùng lớn lao, làm tê liệt hoạt động và giao thông:
Xe lửa chạy tới Tân An
Tốp máy chẳng kịp, ngã ngang té nhào
Hệ thống giao thông liên lạc bị đình trệ nghiêm trọng, cô lập nhiều vùng:
An Nam lại với người Tây
Chạy đánh giây thép, gió bay tróc rồi
Giao thông đường thủy, vốn là huyết mạch của vùng sông nước, cùng với nghề đánh bắt thủy hải sản và ghe thuyền của người dân cũng chịu tổn thất nặng nề:
Tại kinh Nước Mặn chết nhiều
Ghe bầu, tàu khói tấp xiêu lên bờ
Đứt neo, gãy bánh nằm trơ
Tàu khói lên bờ huống luận là ghe
(Ở đây, “tàu khói” chỉ những chiếc tàu có động cơ, còn “gãy bánh” ý nói gãy bánh lái tàu.)
Thảm cảnh sinh ly tử biệt và tinh thần tương trợ
Cả bốn bài vè lưu truyền đều khắc họa những dòng thơ đau xót, diễn tả cảnh tan đàn xẻ nghé, vợ chồng ly tán, người mất người còn diễn ra khắp các địa phương. Tuy nhiên, bi thảm nhất vẫn là khu vực trải dài từ Sài Gòn đến Mỹ Tho, nơi những thây ma trôi nổi chất chồng:
Ghe bầu trôi tấp lên bờ
Thây ma trôi tới Cần Giờ quá đông
Riêng khu vực Gò Công và Tân An, con số thương vong cũng khiến người ta phải rùng mình:
Chôn rồi lại lấy lời khai
Tính trong sổ bộ một muôn hai rõ ràng
Tân An lại với Gò Công
Gẫm trong bão lụt không còn người ta
Tất nhiên, với tính chất văn nghệ hóa của một bài vè, các chi tiết, đặc biệt là những con số thống kê chỉ mang tính tương đối và không thể khẳng định chắc chắn rằng riêng Gò Công và Tân An đã có tới 12.000 người thiệt mạng. Dù vậy, qua những lời thơ ấy, chúng ta vẫn có thể hình dung được mức độ thiệt hại khủng khiếp mà cơn bão đã gây ra trên vùng đất Nam Bộ. Mỗi con người đều cảm thấy sức lực tự thân quá nhỏ bé trước sức mạnh cuồng nộ của thiên nhiên.
Người dân Nam Bộ vốn trọng nghĩa khí, mang trong mình truyền thống chung vai sát cánh để khai phá thiên nhiên, chống chọi với mọi kẻ thù và khắc phục tai ương. Đối mặt với cơn bão Giáp Thìn tàn khốc, một sự biến đầy tai ác, họ càng phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng vượt qua hoạn nạn sinh tử:
Sáng ra tìm kiếm thăm nhau
Vậy mới biết kẻ còn người mất
Nỗi đau của người khác cũng chính là nỗi đau của mình, thôi thúc lòng trắc ẩn và sự sẻ chia:
Sống vất vả đọa đày thế đó
Ai hảo tâm xin ngó đến cùng
Giúp cho tiền bạc áo cơm
Trước là làm nghĩa, sau thơm danh mình
Qua những nghĩa cử cao đẹp đó, những người may mắn sống sót hy vọng tìm thấy sự chở che và bình yên trong vòng tay cộng đồng:
Chòi với trại nắng mưa che đỡ
Cuộc đói no chồng vợ bằng lòng
