Menu Đóng

Vọng cổ, cải lương, cổ nhạc: Giải mã di sản âm nhạc Việt

Nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam là một kho tàng vô giá, thường khiến nhiều người lầm lẫn giữa các khái niệm vọng cổ, cải lươngcổ nhạc. Bài viết này, dựa trên nghiên cứu của TS Trần Quang Hải, sẽ giải mã những định nghĩa này, phác họa hành trình hình thành và phát triển của từng thể loại, đồng thời tôn vinh giá trị văn hóa sâu sắc mà chúng mang lại. Một hành trình khám phá di sản âm nhạc độc đáo của dân tộc.

Tiến sĩ Trần Quang Hải, con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê và cháu ruột của Quái kiệt Trần Văn Trạch, hiện đang sinh sống và nghiên cứu tại Pháp cùng với phu nhân là danh ca Bạch Yến. Rời xa quê hương từ năm 1961, ông đã miệt mài theo đuổi ngành nhạc học và dân tộc nhạc học, không ngừng cống hiến cho việc gìn giữ và phát huy giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam. Cùng với nghệ sĩ Bạch Yến, ông thường xuyên mang tiếng lòng quê hương đến với cộng đồng người Việt và giới thiệu tinh hoa này tới bạn bè quốc tế.

Nhạc cổ truyền, trong nhận thức chung, là dòng chảy âm nhạc từ thuở xa xưa cho đến ngày nay. Thế nhưng, khái niệm “tân nhạc” lại mở ra nhiều câu hỏi về sự “mới mẻ” của nó. Liệu đó có phải là những giai điệu được sáng tác theo khuôn mẫu Âu Mỹ, sử dụng hệ thống nốt Do-Re-Mi thay vì Hò-Xự-Xang-Xê-Cống-Líu, và đã có mặt khoảng 80 năm trở lại đây, từ những năm 1930?

Thậm chí, những làn điệu đã trở thành biểu tượng như vọng cổ, tứ đại oán hay các bản nhạc cải lương Nam Bộ, dù ra đời từ đầu thế kỷ 20, vẫn khiến nhiều người băn khoăn về việc chúng thuộc “cổ nhạc” hay “tân nhạc”. Ranh giới giữa “cổ” và “tân” thực chất chỉ là một khái niệm tương đối, tùy thuộc vào góc nhìn và nhận định của mỗi nhà nghiên cứu.

Trong lịch sử âm nhạc toàn cầu, dòng nhạc cận đại phương Tây bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, điều này càng làm cho việc phân định rõ ràng cổ nhạctân nhạc trở nên mờ nhạt hơn bao giờ hết.

Để tránh mọi sự phức tạp và ngộ nhận, chúng ta có thể tạm hiểu như sau: Cổ nhạc là dòng chảy âm thanh được truyền lại từ ngàn đời, gắn liền với đời sống thường nhật của người dân, thấm đẫm văn hóa phương Đông thông qua phương pháp truyền khẩu. Trong khi đó, tân nhạc thường dùng để chỉ những bản nhạc được thể hiện bằng các nhạc khí phương Tây, phổ biến trong không gian phòng trà hay được sáng tác theo phong cách Tây phương.

Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là không ít người Việt, đặc biệt là cộng đồng hải ngoại, vẫn thường nhầm lẫn giữa vọng cổ, cải lươngcổ nhạc. Có lẽ đã quá quen thuộc với những câu than thở tại các buổi hòa nhạc: “Chà! Toàn tân nhạc không, cổ nhạc đâu hết rồi!”, ngay cả khi chương trình có những tiết mục dân ca hay hát bội truyền thống. Đa số chỉ biết đến và yêu thích vọng cổ, ít khi chú tâm đến các bài bản khác trong cải lương. Điều này dẫn đến sự giới hạn trong vốn liếng cổ nhạc của những người viết tuồng, và nhiều nghệ sĩ cải lương ngày nay chỉ cần trau chuốt sáu câu vọng cổ cho thật “mùi” là đủ, bỏ qua việc học hỏi các bài bản phong phú như thế hệ tiền bối thập niên 1940.

Nhằm khắc họa một cách rõ ràng và sâu sắc kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam, những bài bản đặc sắc của cải lương, cũng như hành trình ra đời và phát triển của bài ca vọng cổ, tiểu luận này sẽ được trình bày qua ba phần chính: Vọng cổ là gì? Cải lương là gì? và Cổ nhạc là gì?

Vọng cổ là gì?

Vọng cổ – ai là người đã kiến tạo nên giai điệu đi vào lòng người này? Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều đồng lòng khẳng định rằng, công lao ấy thuộc về ông Sáu Lầu, tên thật là Cao Văn Lầu, một người con ưu tú của tỉnh Bạc Liêu. Tương truyền, vào năm 1920, trong nỗi lòng khắc khoải vì tám năm chung sống với vợ mà chưa có mụn con, đứng trước áp lực phải tìm người vợ khác để nối dõi, ông Sáu Lầu đã lắng nghe tiếng trống điểm văng vẳng từ chòi canh, để rồi từ cảm xúc mãnh liệt ấy, ông dùng cây đờn cò sáng tác nên bản “Hoài Lang” – khúc nhạc da diết nhớ thương người tình.

Sau khi được ông Tần Xuân Thơ (còn gọi là Thống, thầy tuồng gánh Tân Minh Kế ở Bạc Liêu) viết lời, bài “Hoài Lang” đã được chỉnh sửa và mang tên “Dạ Cổ Hoài Lang” với nhịp hai. Khi sân khấu cải lương bắt đầu khởi sắc vào những năm 1920, bản “Dạ Cổ Hoài Lang” nhanh chóng được các thầy tuồng đưa vào các vở diễn, dần dần thay thế vị trí của bản Tứ đại oán.

Khi chuyện gia đình ông Sáu Lầu cuối cùng cũng viên mãn, vợ chồng ông được đoàn tụ và có con, ông Tần Xuân Thơ đã đề nghị đổi tên bài thành “Vọng Cổ”, mang ý nghĩa “nhớ chuyện dĩ vãng”, một cái tên gợi bao nỗi niềm.

Từ khoảng năm 1925 đến 1927, “Dạ Cổ Hoài Lang” được lan truyền rộng rãi trong giới cải lương. Do nhịp hai không đủ dung lượng để viết lời, bài vọng cổ được phát triển lên nhịp bốn. Bản “Tiếng nhạn kêu sương” của ông Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) có thể là tác phẩm đầu tiên được sáng tác theo lối Dạ Cổ Hoài Lang nhịp tư này.

Thầy Giác là người tiên phong đưa Dạ Cổ Hoài Lang lên nhịp tám vào khoảng năm 1929-1930. Tuy nhiên, phải đến giai đoạn 1935-1937, nghệ sĩ Năm Nghĩa mới chính thức phổ biến rộng rãi nhịp tám qua bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa”, khắc sâu dấu ấn trong lòng công chúng yêu cải lương.

Năm 1938 đánh dấu sự ra đời chính thức của vọng cổ nhịp 16, qua tiếng đờn của nhạc sĩ Bảy Hàm và giọng hát của cô Tư Sạng trong bài “Tình Mẫu Tử”. Thế nhưng, chỉ sau Thế chiến thứ II vài năm, với tiếng hát điêu luyện của nghệ sĩ Út Trà Ôn trong tác phẩm “Tôn Tẫn giả điên”, vọng cổ nhịp 16 mới thật sự bùng nổ và lan tỏa mạnh mẽ.

Đến năm 1954, vọng cổ nhịp 32 chính thức xuất hiện trên các đĩa hát của những hãng đĩa lừng danh như Asia, Hồng Hoa, Lam Sơn, Hoành Sơn. Trong đó, bài “Đội Gạo Đường Xa” của soạn giả Kiên Giang, qua giọng ca của nghệ sĩ Hữu Phước, được xem là biểu tượng tiêu biểu nhất của giai đoạn này.

Một bước ngoặt mới diễn ra vào năm 1964, khi soạn giả Viễn Châu khéo léo lồng ghép tân nhạc vào vọng cổ, khai sinh ra thể loại “tân cổ giao duyên” độc đáo. Để tạo sự hài hòa, bản vọng cổ sáu câu buộc phải rút gọn còn bốn câu.

Dù sau này có những nỗ lực phát triển vọng cổ lên nhịp 64 và thậm chí 128, nhưng chúng không đạt được thành công vang dội. Vì vậy, cho đến tận ngày nay, hơn 50 năm sau, vọng cổ nhịp 32 vẫn giữ vững vị thế “ăn khách” và tiếp tục được phổ biến rộng khắp, làm say đắm biết bao thế hệ người Việt.

Hiếm có một tác phẩm âm nhạc nào trong lịch sử Việt Nam lại có sức biến chuyển và lan tỏa mạnh mẽ đến vậy, đi sâu vào tâm hồn đại đa số người Việt cả trong và ngoài nước. Dù mang âm hưởng buồn “đứt ruột, nhức xương”, khơi gợi nỗi nhớ quê hương của người xa xứ, hay nung nấu chí khí quật cường nơi chiến trường, vọng cổ lại là một trường hợp ngoại lệ khi một bài hát buồn có thể mang những ý nghĩa và tác động đa chiều. Đây là một hiện tượng độc đáo đáng để phân tích sâu hơn.

Cần nhấn mạnh rằng, vọng cổ chỉ là một phần trong tổng thể nhạc cải lương. Việc biết hát vọng cổ không đồng nghĩa với việc am tường toàn bộ cổ nhạc hay cải lương. Cách hát vọng cổ trong nhạc thính phòng (hay nhạc “xa-long” theo cách gọi Pháp) khác biệt hoàn toàn so với khi thể hiện trên sân khấu cải lương. Trong nhạc thính phòng, người ca sĩ chú trọng vào sự ngân nga, ngọt ngào của giọng hát, và sự chắc chắn của nhịp điệu, trong khi người đệm đàn chỉ cần giữ vững nhịp và có thể tùy ý nhấn nhá theo tài năng. Ngược lại, trên sân khấu cải lương, vọng cổ thường chỉ được hát hai, bốn, hoặc năm câu, rất hiếm khi hát trọn vẹn sáu câu từ đầu đến cuối. Sự khác biệt này rất quan trọng, bởi lẽ có những nghệ sĩ chỉ thuần thục ca hoặc đờn vọng cổ cho nhạc thính phòng mà lại khó thể hiện trọn vẹn trên sân khấu cải lương.

Cải lương là gì?

Cải lương, một loại hình nghệ thuật sân khấu đã đi sâu vào tâm hồn người Việt, đặc biệt ở miền Nam, trải qua hơn tám thập kỷ hình thành và phát triển, đã trở thành tấm gương phản chiếu đời sống, nơi gửi gắm những tâm tư mà lời nói thường ngày khó diễn đạt. Nhà khảo cổ và nghiên cứu Vương Hồng Sển, trong tác phẩm “Hồi ký 50 năm mê hát: 50 năm cải lương” (1968), từng bày tỏ sự không chắc chắn về ngày khai sinh chính xác của loại hình nghệ thuật này. Mặc dù Sài Gòn từng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập cải lương vào năm 1966, ngụ ý rằng cải lương ra đời năm 1916, nhưng thiếu tài liệu ghi chép rõ ràng nên khó có thể đưa ra khẳng định tuyệt đối.

Theo những hiểu biết ban đầu, cải lương có lẽ xuất hiện dưới dạng ca tài tử tại các tư gia vào khoảng năm 1915. Khi đó, các tài tử chỉ đơn thuần ca những bài bản cũ theo lối “độc thoại”, chưa có các động tác diễn xuất. Một tài liệu đáng chú ý là quyển “Bản đờn tranh và bài ca” do Phụng Hoàng Sang biên soạn, xuất bản lần thứ ba vào năm 1907. Từ đây, ta có thể suy đoán lần in đầu tiên có lẽ đã diễn ra vào khoảng năm 1900. Quyển sách này hé lộ kho tàng bài bản thời bấy giờ, bao gồm Lưu thủy trường, Phú lục, Bình bán chấn, Xuân tình, Bình bán vắn, Bát man tấn cống, Tứ đại, Phụng hoàng, Nam xuân, Nam ai, Tứ đại cảnh. Có ý kiến cho rằng ông thầy Ký Trần Quang Quờn đã sáng tác “Tứ đại oán” và “Văn thiên tường”. Chắc chắn một điều là ông Trần Quang Quờn còn sáng chế nhiều loại đờn độc đáo như đại ba tiêu, tiểu ba tiêu, song thương, dù ngày nay chúng không còn phổ biến. Có thể xem đây là giai đoạn phôi thai, tượng hình của hát cải lương.

Đến năm 1916, hình thức ca đối thoại, có nhiều người cùng hát và có động tác “ra bộ”, bắt đầu nở rộ, được gọi là “Ca ra bộ”. Bản “Tứ đại oán” (Bùi Kiện thi rớt) nổi tiếng, khởi phát từ Vũng Liêm (Vĩnh Long) tại nhà thầy Phó Mười Hai, chính là ví dụ điển hình cho giai đoạn này. Vĩnh Long được xem là cái nôi của hát “ca ra bộ”, tiền thân của cải lương. Bên cạnh ông Phó Mười Hai (Tống Hữu Định), ông Trần Quang Quờn và danh cầm Phạm Đăng Đàng cũng là những nhân vật có công lớn trong việc định hình cải lương sau này.

Gần cuối Thế chiến thứ nhất, dưới sự nới lỏng chính sách của Toàn quyền Albert Sarrault, người dân được phép thành lập các hội hát dân ca. Nhờ vậy, một số trí thức, thân hào phú hộ như Huyện Của, Bùi Quang Chiêu, Đốc Phủ Bảy, Hồ Văn Trung, Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng… đã cùng nhau chia vai, lần đầu tiên lên sân khấu biểu diễn gây quỹ giúp Pháp chống Đức. Từ sự cải tân nghệ thuật hát bội, danh từ “hát bộ” (hát có ra bộ) ra đời, điển hình là vở “Gia Long tẩu quốc, Pháp Việt nhất gia” diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn vào ngày 16 tháng 11 năm 1918.

Từ đó, các nhóm “ca ra bộ” rồi cải lương mọc lên như nấm ở miền Nam: thầy Phó Mười Hai Tống Hữu Định ở Vĩnh Long, gánh xiếc pha ca ra bộ của André Thận ở Sa Đéc, gánh hát của thầy thuốc Trần Văn Minh ở Sóc Trăng, gánh Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, gánh thầy Mười Vui ở Chợ Lớn, gánh Tân Thinh ở Sài Gòn, gánh Tập Ích Ban của Vương Văn Có ở Long Xuyên, và nhiều nơi khác.

Mặc dù có nhiều giả thuyết, điều mà mọi người đều đồng thuận là cải lương có nguồn gốc sâu xa từ hát bội. Ban đầu, các tuồng cải lương thường dựa theo các tích cổ của hát bội như “Trảm Trịnh Ân”, “Ngưu Cao tảo mộ”, “Thoại Khanh Châu Tuấn”. Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ, trong hát bội, câu ca không bị ràng buộc quá chặt vào nhạc đàn, cho phép diễn viên tự do sáng tạo, phát huy sở trường về độ cao thấp, nhanh chậm, ngân nga của giọng hát, chỉ cần khớp với nhịp chính của đàn. Ngược lại, trong cải lương, câu ca phải tuân thủ nghiêm ngặt điệu đàn, hòa hợp với giai điệu và tiết tấu.

Để thoát khỏi những cử chỉ tượng trưng quá mức, lối hát hay thét lớn của hát bội và các tuồng tích xưa cũ, cải lương đã mang đến một hơi thở mới. Với những bài ca êm dịu, da diết, những cảnh trí được dàn dựng công phu, những vở tuồng gần gũi với xã hội Việt Nam, lời văn giản dị, gần gũi với ngôn ngữ thường ngày, cùng những động tác tự nhiên, cải lương đã làm thay đổi nghệ thuật diễn xuất và âm nhạc. Về mặt âm nhạc, cải lương loại bỏ các lối hát nam, hát khách, cùng lối xướng, bạch, hướng, tán, mà chỉ giữ lại và phát triển lối nói lối sao cho thật “mùi” khi kết hợp với tiếng đờn tài tử.

Vốn liếng ca nhạc của sân khấu cải lương ngay từ buổi đầu đã vô cùng phong phú. Về điệu “Lý”, có các bài như “Lý ngựa ô”, “Lý con sáo”, “Lý giao duyên”, “Lý ngựa ô nam”, “Lý thập tình”, “Lý chuồn chuồn”. Về ngâm, có Sa mạc, Bồng mạc, Ngâm sổng, hoặc lối ngâm mới trong cải lương theo dây Oán. Các bài Nam gồm “Nam xuân”, “Nam ai” và “Nam đảo”. Bốn bài oán điển hình là “Tứ đại oán”, “Phụng hoàng”, “Giang nam”, “Phụng cầu”, cùng bốn bài oán phụ như “Văn thiên tường”, “Bình sa lạc nhạn”, “Bộc thủy ly tao” và “Thanh dạ đề quyên”. Đối với các cảnh vui tươi, có năm bản vui và ngắn như “Bình bán vắn”, “Tây thi vắn”, “Khổng Minh tọa lầu”, “Mẫu tầm tử”, “Long hổ hội”. Sáu bài Bắc lớn bao gồm “Lưu thủy trường”, “Phú lục”, “Bình bán chấn”, “Xuân tình”, “Tây thi”, “Cổ bản”. Bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ như “Xàng xê”, “Ngũ đối thượng”, “Ngũ đối hạ”, “Long đăng”, “Long ngâm”, “Vạn giá”, “Tiểu khúc”. Ngoài ra còn có tám bài ngắn khác dùng cho nhiều trường hợp vui buồn khác nhau: “Ái tử kê”, “Chiêu quân”, “Trường tương tư”, “Đường Thái Tôn”, “Bát man tấn cống”, “Duyên kỳ ngộ”, “Ngự giá”, “Kim tiền bản”, và cuối cùng là mười Liên hoàn (Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình nguyên, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã).

Giai đoạn khởi đầu của cải lương được đánh dấu bằng gánh hát của thầy André Thận vào năm 1917. Đến năm 1918, khi gánh André Thận tan rã, thầy Năm Tú ở Mỹ Tho đã tập hợp các tài tử cũ, lập nên gánh Thầy Năm Tú, đầu tư thêm y phục, cảnh trí, và có Trương Duy Toản là thầy soạn tuồng chuyên nghiệp.

Ban đầu, cải lương thường là tiết mục phụ diễn trước khi chiếu phim hát bóng. Các nghệ sĩ ngồi trên bộ ván gõ, mặc quốc phục chỉnh tề, vừa ca vừa ra bộ. Thầy Năm Tú đã có công lớn trong việc phổ biến nhạc cải lương đến mọi tầng lớp người Việt khắp xứ qua các đĩa hát 78 vòng. Những người cao tuổi ngày nay vẫn còn nhớ câu mở đầu quen thuộc: “Đây là bạn hát cải lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho, hát cho đĩa Pathé Phono nghe chơi”.

Từ đó, hàng loạt gánh hát đua nhau xuất hiện và phát triển rực rỡ như gánh Tập Ích Ban, Tân Thinh Ban, Văn Hý Ban, Võ Hý Ban, Phước Cương, Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Phụng Hảo… Tất cả đã cùng nhau xây dựng một nền móng vững chắc cho sân khấu cải lương. Những tài tử gạo cội như các bà Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nam, Hai Nhỏ, Ba Út, Năm Sa Đéc, Thanh Tùng, Kim Thoa, và các nam nghệ sĩ Từ Anh, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Nghĩa, Tám Danh, Ba Du… đã góp phần đưa nghệ thuật diễn xuất cải lương từ thuở sơ khai đến đỉnh cao toàn hảo (hiện nay chỉ còn bà Phùng Há ở Sài Gòn).

Trong giai đoạn từ năm 1938 đến 1945, nhóm Kim Thoa của Tư Chơi và gánh Kim Chung đã thử nghiệm việc hòa trộn nhạc Tây phương vào các bài bản cổ truyền Việt Nam, tạo nên những sắc thái mới lạ.

Khi chiến tranh kết thúc và giai đoạn hồi cư (1946-1947) bắt đầu, cải lương trở lại nhưng chủ yếu vẫn là diễn lại các tuồng cũ.

Từ những năm 1950 trở đi, sân khấu cải lương tiếp tục đổi mới bằng cách pha thêm các yếu tố đấu kiếm, đánh võ, đánh chưởng, lồng ghép giọng ca Hồ Quảng (Trung Quốc) hay phong cách Âu Mỹ, và đặc biệt là sự ra đời của thể loại tân cổ giao duyên.

Tuồng tích cải lương cũng được phân chia đa dạng thành nhiều loại: tuồng Tàu, tuồng dã sử, tuồng chiến (điển hình là gánh của Bảy Cao), tuồng La Mã, tuồng Phù Tang, tuồng xã hội, tuồng chưởng, tuồng Hồ Quảng…

Thập niên 1950-1960 chứng kiến sự tỏa sáng của những nghệ sĩ thượng thặng, được đông đảo công chúng mến mộ như Út Trà Ôn (mất năm 2001), Thành Được (hiện sống tại San Jose, Hoa Kỳ), Thanh Tú (ở Sài Gòn, Việt Nam), Hùng Cường (mất tại California, Hoa Kỳ), Dũng Thanh Lâm (mất tại California, Hoa Kỳ) ở phái nam; và Út Bạch Lan (ở Sài Gòn), Thanh Nga (đã mất), Bạch Tuyết (ở Sài Gòn), Ngọc Giàu (Sài Gòn), Thanh Thanh Hoa (Sài Gòn), Ngọc Nuôi (mất tại Hoa Kỳ), Kim Chưởng (Sài Gòn) ở phái nữ.

Không thể không nhắc đến những danh hề đã làm nên tiếng cười giòn tan cho khán giả, như Ba Vân (đã mất), Sáu Đước (gánh Tân Đồng Ban, đã mất), Tư Rọm (gánh Việt Hùng Minh Chí, đã mất), Hề Trường, Hề Tỵ (gánh Tân Hí, Mộng Vân, Phát Thanh), Lê Tám (gánh Hoa Sen), Hề Phúc Lai, Hề Tư Vững, Hề Giác, Hề Minh, Hề Hai Vinh. Tất cả những nghệ sĩ tài hoa này đều đã về cõi vĩnh hằng.

Từ năm 1970 trở đi, thế hệ nghệ sĩ trẻ tài năng như Minh Phụng, Minh Cảnh, Tấn Tài, Chí Tâm (hiện sống tại Hoa Kỳ), Vương Kiệt, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Hương Lan (sống tại Hoa Kỳ), Phượng Liên (hiện sống tại Hoa Kỳ)… đã nối tiếp con đường mà các bậc tiền bối đã dày công gây dựng.

Trước năm 1975, miền Nam có hơn 50 gánh hát cải lương hoạt động quanh năm. Ngày nay, số lượng gánh hát ở Việt Nam vẫn duy trì tương đương và tiếp tục phát triển nghệ thuật cải lương. Trong khi đó, ở hải ngoại, cải lương không còn giữ được sức hút mạnh mẽ với khán giả, nhiều nghệ sĩ cải lương tị nạn phải chuyển sang nghề khác để mưu sinh.

Cổ nhạc là gì?

Cổ nhạc, theo nghĩa rộng, là một bức tranh âm thanh đa sắc bao gồm nhiều loại hình phong phú: từ nhạc cung đình uy nghi, nhạc tôn giáo linh thiêng, nhạc thính phòng trang trọng, nhạc tuồng (như hát bội, chèo, cải lương) đầy kịch tính, cho đến nhạc dân gian mộc mạc với các bài hát ru con, đối ca, và những điệu hò đưa linh. Có thể nói, cổ nhạc chính là dòng chảy âm nhạc do người Việt sáng tạo và truyền khẩu từ thuở lập quốc cho đến thời hiện đại, thấm đẫm bản sắc dân tộc. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin phép tạm không đi sâu vào các loại nhạc của 54 dân tộc anh em trên khắp dải đất Việt Nam, như Thái, Mông, Mường, Mán, Thổ, Tày, Dao, Ra-đê, Ba-na, Mnông, Sê Đăng, Ê Đê, Chàm…

Nhạc cung đình, từng được Lương Đăng phỏng theo phong cách cung đình nhà Minh (Trung Quốc) vào thế kỷ 15, đã phát triển rực rỡ dưới triều Nguyễn (1802-1945). Nền nhạc này bao gồm các thể loại đồ sộ như Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ Tự nhạc, Đại Triều nhạc, Thường Triều nhạc, Cửu Nhật Nguyệt giao trùng nhạc, Cung trung chi nhạc, Yến nhạc, Văn nhạc, Võ nhạc, được trình bày bởi những dàn nhạc lớn (đại nhạc, tiểu nhạc) với số lượng nhạc công đông đảo. Kèm theo đó là các điệu vũ đặc sắc như văn vũ, võ vũ, tứ linh vũ, hoa đăng vũ, bát man tấn cống vũ…

Nhạc tôn giáo cũng là một mảng quan trọng của cổ nhạc. Nhạc Khổng giáo hiện nay đã mai một ở Việt Nam, chỉ còn được tìm thấy ở Đài Loan và Hàn Quốc. Trong khi đó, nhạc Phật giáo lại vô cùng phong phú với các điệu niệm, tán, tụng mang đậm tính nhạc, làm lay động lòng người. Nhạc Cao Đài, đặc biệt phổ biến ở miền Nam, phát triển dựa trên các điệu Nam (Nam xuân, Nam ai, Oán). Ngoài ra, còn có các loại nhạc gắn liền với lễ nghi tín ngưỡng như chầu văn, hầu văn, rỗi bóng, lên đồng, và nhạc đám ma, mỗi loại mang một sắc thái riêng biệt.

Nhạc thính phòng (dịch theo nghĩa Tây phương) là một thể loại được ưa chuộng rộng rãi tại Việt Nam, với ba hình thức đặc trưng cho ba miền. Miền Bắc có Hát Ả Đào (còn gọi là Ca trù hay Hát cô đầu), dù đã được chấn hưng trong hai thập kỷ gần đây, vẫn chưa thật sự thịnh hành như xưa. Miền Trung tự hào với Ca Huế, với các bản Nam ai, Nam bằng, Tứ đại cảnh, và Mười bài ngự, vẫn luôn được yêu thích. Miền Nam là cái nôi của Đờn ca tài tử, đã phát triển mạnh mẽ và được tổ chức nhiều liên hoan tại các tỉnh (Tân An, Mỹ Tho, Bạc Liêu). Chính Đờn ca tài tử đã đóng góp không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nhạc cải lương.

Kho tàng nhạc dân gian Việt Nam thực sự vô giá. Miền Bắc sở hữu vô vàn làn điệu dân ca đã tái hiện vẻ đẹp phong cảnh và phong tục ngàn xưa, điển hình là hát Quan họ Bắc Ninh với nghi lễ kết bạn, ngủ bọn (liền anh, liền chị) và các hội thi hát lấy giải; rồi hát Trống quân, hát Giặm, hát Phường vải, hát Ví, hát Xoan, Cò lả, Hội sim. Ngoài ra còn có hát Xẩm. Miền Trung nức tiếng với Hò sông Mã, hò mái nhì, mái đẩy, mái sấp, hò hụi, hò nện, cùng các điệu lý như Lý mười thương, Lý con sáo, Lý giao duyên. Trong Nam, các điệu hò cũng đa dạng theo từng miền, từng vùng như Hò Đồng Tháp, Hò Bạc Liêu, Hò Bến Tre, Hò lơ, hay các điệu lý như Lý ngựa ô, Lý chuồn chuồn, Lý con khỉ đột, Lý dĩa bánh bò, Lý che hường… Hầu hết các điệu lý, hò, đối ca đều được thể hiện trên nền thể thơ lục bát đặc trưng của Việt Nam. Nhờ vào các cuộc thi hát và óc sáng tạo tinh nhạy của người dân, dân ca Việt Nam ngày nay có hàng ngàn bài được phổ biến rộng khắp, làm phong phú thêm đời sống tinh thần.

Thông qua bài tiểu luận này, chúng tôi hy vọng quý độc giả sẽ có một cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về ba khái niệm vọng cổ, cải lươngcổ nhạc. Việc thấu hiểu cội nguồn âm nhạc Việt không chỉ là một kiến thức văn hóa cần thiết, đặc biệt với những người con xa xứ, mà còn là nền tảng để mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về nhạc mình, tìm hiểu nhạc người, và dung hòa hai nền nhạc Âu – Việt để không bị mất đi gốc rễ văn hóa. Tự hào về nhạc Việt, về tiếng nói Việt, về văn hóa Việt chính là cách nung nấu chí khí quật cường bất khuất của dân tộc, là nuôi dưỡng tình yêu quê hương, tình thương dân tộc, để xứng đáng là con cháu dòng dõi Lạc Hồng.

Posted in Nghệ thuật

Bài tham khảo