Menu Đóng

Bến sông ngân ngấn nước

Cô gái Hường trầm tư bên bến sông miền Tây, phía xa là người đàn ông bí ẩn dưới gốc cây săng máu cổ thụ.

Một miền Tây sông nước hiện lên qua tâm trạng cô quạnh của Hường, người phụ nữ gần ba mươi tuổi chưa tìm thấy bến đỗ cuộc đời. Giữa tiếng chim bìm bịp kêu gọi bạn tình thưa thớt, nàng tò mò về người đàn ông lầm lì mới xuất hiện, người bị nghi ngờ là “thủ phạm” khiến những âm thanh quen thuộc dần vắng bóng, mang theo những bí ẩn khơi gợi trong nàng bao xúc cảm lạ lùng.

Tiếng chim khắc khoải

Suốt đêm, tiếng chim báo nước vẫn khắc khoải vọng về, khi gần khi xa. Âm thanh ấy nghe như một lời gọi lẻ loi, cô độc, thấm đượm nỗi buồn miên man. Chẳng còn giống tiếng chim báo hiệu nước ròng, nước lớn thường ngày, hẳn nó đang gọi bạn tình tha thiết.

Mấy ngày qua, tiếng chim bìm bịp quen thuộc dần thưa thớt, khiến Hường không hiểu vì sao. Chắc chắn thủ phạm là người đàn ông lầm lì, bí ẩn kia. Anh ta đã xuất hiện nơi đồng bưng này mấy hôm nay, lầm lũi đi khắp các lung, các bàu, rồi thỉnh thoảng lại ngồi thừ ra trên một doi đất cằn, chẳng màng đến ăn uống.

Nỗi buồn bến sông

Hường nằm vắt tay lên trán, lắng nghe mãi tiếng bìm bịp buồn vời vợi, gợi nhớ âm vang tụng kinh từ chốn cửa chùa. Rằm tháng Mười vừa qua, nàng cũng ghé chùa Bà, cúng dường hai lít dầu hôi. Chùa buồn hiu hắt, trống hoác chẳng có gì đặc sắc để mà đến, nhưng thấy người ta đi, nàng cũng đi theo, cốt chỉ để rút một quẻ xăm cho có lệ. Quan trọng hơn cả là mang dầu cúng chùa, bởi mùa nước lên, biết nhà chùa kiếm củi ở đâu. Vị sư trụ trì đã già lắm, già hơn cả cây săng máu cổ thụ nơi bến sông trước cửa chùa. Người ta kể rằng ngày xưa sư thất tình nên mới xuất gia. Tu hành đã lâu, sư giờ chỉ còn là một nắm xương bọc da, trông cằn cỗi như gốc bần dầm mình trong nước lũ.

Nhìn vào đôi mắt nhà sư, Hường thấy lòng mình chạnh lòng đến muốn bật khóc. Đời nàng cũng có vui gì đâu. Gần ba mươi tuổi xuân mà vẫn héo hắt nơi bến sông lờ mờ ngân ngấn nước. Mỗi sáng bước ra khỏi nhà, nàng lại thấy bến sông; mỗi chiều trở về, bến sông vẫn đợi. Ngồi không, ngóng mắt ra cửa, nàng cũng chỉ nhìn thấy bến sông ấy – bến sông với cây săng máu cô độc, trơ trọi, thả nghiêng vòm lá, lúc nào cũng xào xạc một điệu buồn u ẩn, lúc nào cũng ngân ngấn nước như chực òa khóc cho một nỗi cô quạnh muôn đời.

Trưa hôm qua, Hường đã trông thấy người đàn ông lầm lì ấy ngồi vấn thuốc, hút khan dưới gốc cây săng máu. Chẳng thấy bóng dáng đồ nghề mưu sinh nào, chỉ có chiếc giỏ lác đặt hờ hững dưới chân. Anh ta ngồi thừ ra đó, từ gần mười giờ sáng đến tận hai giờ chiều, không ăn uống gì, chỉ lặng lẽ hút thuốc giồng. Giữa trưa nắng, Hường luộc một nồi khoai sáp, cũng muốn mời anh ta nhưng rồi lại e ngại. Chẳng biết người ta là ai, tính cách thế nào mà mời; vả lại, chỉ nồi khoai chứ có phải cơm nước gì đâu. Đến lúc mẹ nàng đi xóm về, anh ta đã xuống xuồng, bơi đi đâu mất. Chắc lại vào các lung, bàu để bắt chim bìm bịp. Tại sao cứ nhất thiết phải bắt chim chứ? Miệt đồng còn rộng lớn, mênh mông, thả dăm tay lưới, quăng mấy tay chài cũng đủ sống qua ngày rồi.

Nếu muốn cuộc sống khá giả hơn, người ta có thể cất vó bè, đóng đáy, hay khai phá thêm vài công ruộng. Cớ sao cứ phải bám lấy việc bắt chim bìm bịp? Tiếng chim vẫn nỉ non ai oán vọng về từ đâu đó ngoài bến sông. Lúc này, con nước đang rút, phải gần hừng đông mới bắt đầu lớn trở lại.

Gặp gỡ bất ngờ

Sáng sớm tinh mơ, Hường đã phải tất bật ra chợ xã bán mấy cần xé hột vịt. Khi nàng trở về, trời đã xế trưa, bóng mặt trời nghiêng qua cây săng máu cổ thụ, đổ dài gần cả thước. Lạ lùng thay, người đàn ông lầm lì ấy đang ngồi ăn cơm dưới bếp. Mẹ nàng ngồi tiếp chuyện anh ta, vẻ mặt thân thuộc đến lạ. Anh ta vẫn ăn uống trong sự lầm lì, cô độc cố hữu. Chỉ thoáng nhìn qua, Hường đã nhận ra anh ta phải ngoài bốn mươi, tóc dày và cứng, gương mặt xương xương, đôi bàn tay thô ráp, cần cổ cao và nổi rõ hai sợi gân như hai ngón tay. Quay lại thấy Hường, anh ta khẽ gật đầu chào, rồi cất tiếng nói với giọng trầm ấm, như vọng từ sâu trong lồng ngực ra: “Cô Ba ngồi ăn chén cơm luôn thể?”

Nghe vậy, Hường bỗng dưng đỏ bừng cả mặt. Kể cũng lạ lùng, đây là nhà mình mà sao nàng lại thấy mắc cỡ đến thế? Nàng lúng túng, tay chân như thừa thãi. Đang định bỏ lên nhà trên thì Hường nghe tiếng mẹ: “Thì con cứ ngồi ăn với nó một chén cho vui. Nó cũng là người làng này chứ có xa lạ gì đâu mà ngại.”

Từ sáng đến giờ Hường chỉ kịp ăn hai cái bánh ú trên đường chạy ghe trên sông, giờ nàng cũng đã thấy bụng cồn cào. Nàng bày ra đĩa mấy trái cam sành, mấy trái quýt đường, rồi ngồi ghé xuống mâm cơm. Vừa ăn, Hường vừa len lén quan sát anh ta. Đôi mắt anh đã hằn những vết chân chim, vầng trán hiện rõ mấy đường nhăn. Râu cằm và râu mép lún phún như rễ tre. Đôi mắt thăm thẳm, lấp lánh hai đốm sáng sâu hút, ẩn chứa nhiều điều. Người như vậy ắt hẳn là người có bản lĩnh, từng trải. Vậy cớ gì anh ta lại đến đây để bắt chim bìm bịp? Mới tháng trước, bìm bịp còn kêu rộn ràng khắp bờ ô rô, bờ dớn, bờ choại, bờ cóc kèn. Từ khi anh ta xuất hiện, tiếng chim cứ thưa dần. Tối qua, Hường chỉ còn nghe một con nao nao gọi bạn. Đang vừa ăn vừa nghĩ miên man, Hường chợt nghe người đàn ông nói giọng ồ ề: “Cô Ba ăn đồ ăn đi? Cá rô kho tộ ngon thật ngon!”

Anh ta chọn một con cá rô to bằng bàn tay, gắp khúc đầu cho Hường. Tự dưng, lòng Hường xốn xang khôn tả. Đây là lần đầu tiên trong đời nàng được một người đàn ông gắp thức ăn cho. Xưa nay, Hường chỉ quen gắp đồ ăn cho mẹ, cho mấy cô bạn đến nhà chơi. Nàng chưa bao giờ trải nghiệm cảm giác được người khác chăm sóc, đặc biệt là từ một người đàn ông hoàn toàn xa lạ. Chính điều đó càng khiến Hường thêm lúng túng, ngượng ngùng. Để lấy lại bình tĩnh, Hường cất tiếng nói: “Anh ăn đi, anh là khách mà!”

Hường gắp phần cá còn lại định đưa cho khách, nhưng do lúng túng, miếng cá lại rơi xuống mâm. Thật là vụng về! Hường cuống cả lên. Người đàn ông lại cất tiếng ồ ề: “Cô Ba cứ để đó cho tôi. Tôi no rồi.”

Nói rồi, anh ta xoay sang cắt cam, bóc quýt. Đôi bàn tay thô ráp ấy vậy mà làm việc thật gọn gàng, khéo léo. Dường như vẻ ngoài sần sùi lại đối lập hoàn toàn với tính nết bên trong anh. Một người như vậy, lẽ nào lại vào đồng bắt chim về bán, hay ngâm rượu? Nghe nói lâu nay, người ta ưa chuộng loại rượu rắn ngâm cùng thuốc bắc, chim bìm bịp và hải mã.

Những nghi vấn lắng đọng

Khi Hường rửa xong chén bát, trở lên nhà thì người đàn ông đã đi mất. Việc anh ta không chào nàng một tiếng khiến Hường có chút phật lòng. Nàng phàn nàn với mẹ: “Hình như anh ta đến đây bắt chim thì phải? Đêm hôm qua, ngoài bến sông, chỉ còn nghe duy nhất một con bìm bịp kêu thôi.” Mẹ nàng vừa ngoáy cơi trầu vừa nói: “Mấy hôm nay nước rút, có khi chim bìm bịp theo nước mà vô đồng kiếm ăn.” Hường vẫn thấy giận người đàn ông ấy. Người đâu mà… ra đi không thèm chào hỏi ai một tiếng. Nàng nói: “Anh ta suốt ngày chui lủi trong bưng, trong bàu. Dám anh ta lùng bắt chim chứ còn ai vào đó nữa?” Mẹ nàng ngồi chỏi chân trên bộ ngựa, nhìn vọng qua cánh đồng bên kia sông, nói giọng khàn khàn: “Con đừng nói bừa như vậy. Không thấy rõ thì đừng nghi oan cho người ta. Tội chết!”

Thật ra, Hường cũng có thấy anh ta bắt chim bao giờ đâu. Chỉ thấy anh ta thui thủi một mình, lần mò khắp các lung, các bàu. Anh ấy làm gì ở đó nhỉ? Mấy năm trước, từng có người từ xứ khác kéo về săn lùng cua đinh, rắn hổ, phải đến khi công an xã và du kích ra tay mới dẹp yên được. Nếu anh ta đến đây bắt chim bìm bịp, liệu có bị công an bắt giữ không? Vậy thì anh ta làm gì? Ai lại rảnh rỗi mà tha thẩn trong lung, trong bàu như thế? Hường vừa nghĩ ngợi miên man, vừa xách cây phảng ra phát quang đám đất sau nhà.

Ngang qua lùm tre gai, nàng giật mình nghe tiếng xoạt. Nhìn qua vạt cỏ ống, Hường thấy một con hổ ngựa đang quăng mình rượt chuột. Con rắn to và dài đến rợn người. Thân nó màu nâu vàng, ban ngày thường nép mình trên cành cây hay ẩn trong hang hốc, chỉ khi đêm xuống mới đi kiếm ăn. Lúc trườn thì rất nhẹ nhàng, chỉ khi phóng tới bắt mồi nó mới lộ vẻ nhanh nhẹn kinh hoàng. Con hổ ngựa này chắc hẳn mới từ đâu tới. Trước đây, trong bọng cây cũng mục gần nhà Hường, cũng có một con hổ ngựa, nhưng con ấy đã bị đám thanh niên phát hiện, dùng chĩa xông mất cả tháng trời nay. Con hổ ngựa này dài hơn hai mét chứ không ít. Giống rắn này chính là khắc tinh của chim và chuột. Hổ ngựa về, chim chuột ắt phải bỏ đi. Dám Hường đã nghi oan cho người đàn ông ấy rồi.

Phát quang xong đám đất, trời cũng vừa lãng đãng hoàng hôn. Hường nghỉ tay, đi ra bến sông, nhảy ùm xuống tắm. Dòng nước mát lạnh, nay đã trong xanh trở lại sau mùa nước son. Làn nước mát mơn man da thịt, đem lại cho Hường cảm giác rạo rực, bâng quơ của người phụ nữ. Thốt nhiên, nàng lại nghĩ đến người đàn ông ấy. Anh ta đến đây làm gì? Tại sao suốt ngày lại cứ chui lủi trong lung, trong bàu?

Sự thật được hé lộ

Khi ngồi ăn cơm, Hường hỏi mẹ: “Má nói anh ta là người làng mình ư?” Bà mẹ hơi ngạc nhiên, buông đũa nhìn con: “Con hỏi ai vậy? Tự dưng con hỏi ngang xương thế thì làm sao má biết mà nói?” – “Thì là anh ta chứ ai. Má mới mời cơm hồi trưa này mà.” – “À, thằng Tư Đũa đó hả. Nó người ấp Kinh Nhì, bỏ làng đi từ nhỏ. Nghe nói nó có học hành đàng hoàng đó con! Tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp ở Cần Thơ gì đó, nay làm việc trên sở tỉnh.” Hường thấy nao nao trong lòng. Người đen đúa vậy mà học thức cao như thế. Nhìn bề ngoài ai mà ngờ được. Thật dễ lầm!

“Vậy thì… vì sao anh ấy phải bỏ làng ra đi?” – “Mẹ nó đưa nó đi đó con. Hồi nó còn nhỏ, còn mặc quần xà lỏn chơi trò thọt me dốt, cha nó thò tay vào tổ hốt chim bìm bịp non, bị rắn lục mũi hếch cắn chết. Mẹ nó buồn quá nên mới đưa nó đi. Đi được mấy năm thì bà bị bệnh, rồi mất ở nhà thương thí.”

Hường thấy xốn xang trong lòng. Té ra anh ấy cũng mồ côi như mình, thậm chí còn đáng thương hơn. Vậy mà anh ấy vẫn quyết chí đi học. Đàn ông trong làng này mấy ai được như vậy, tối ngày chỉ thấy phơi cá lóc nướng nhậu.

“Giờ anh ấy sống trên thành phố hả?” – “Ừ! Nó sống với đứa con gái chín tuổi. Hai cha con cút cút với nhau, vậy mà nó dám bỏ công việc, vô đây cả một quãng thời gian dài.” Vậy ra người đàn ông lầm lì ấy góa vợ sao? Hường muốn hỏi mẹ cho rõ, nhưng rồi lại thấy ngại ngùng. Chuyện riêng của người ta, mình hỏi kỹ quá cũng kỳ.

Hường gắp một đũa mắm chưng, nhưng miếng cá cứ vuột ra khỏi đũa. Mẹ Hường nhìn thấy, lắc đầu: “Con vụng về quá! Lo hỏi chuyện người ta đến quên cả miếng ăn. Hồi chiều này, thằng Tư Đũa có ghé lại chào má rồi về. Nó nói nó còn quay lại để nghiên cứu thảm thực vật. Má cũng chẳng hiểu đó là cái giống gì nữa.”

Mối duyên chợt đến

Hường cũng chẳng rõ “thảm thực vật” là gì. Nàng chỉ thấy lòng mình nao nao một nỗi niềm khó tả. Làm sao người đàn ông ấy lại chỉ sống côi cút với hai cha con? Bao giờ anh ấy mới quay trở lại? Liệu anh ấy có còn ghé nhà ăn cơm nữa không? Nhà Hường còn nửa khạp mắm lóc, rau nhút thì mọc đầy dưới mương. Người xứ này ai chẳng thích ăn mắm. Đêm ấy, Hường nằm thao thức mãi. Tiếng chim báo nước vẫn cất lên nỉ non, cô độc. Sau nhà, gió đồng bưng thổi dài sườn sượt. Mãi đến khi vầng trăng hạ tuần nhú lên, Hường mới chợt nhận ra tiếng nước vỗ lóc bóc ngoài bến cây săng máu.

Con nước đang lớn dần. Chắc giờ này bến sông đã ngân ngấn nước tràn bờ.

Tiếng bìm bịp cô quạnh: Duyên tình Hường và Tư Đũa

Posted in Truyện ngắn

Bài tham khảo