Menu Đóng

Gió mùa thao thức

Cặp vợ chồng già ngồi lặng lẽ bên bờ rạch hoang tàn, nhìn ra cánh đồng đã chuyển thành vuông tôm thất bát.

Những cơn gió se sắt tháng Mười đã tìm về rạch Mồ Côi, mang theo nỗi thao thức không nguôi của người già nơi miệt vườn. Năm tháng cũ, gió này về là mùa đìa rộn rã, mùa cá đồng dâng tặng niềm vui sum họp. Năm nay, chỉ còn là tiếng gió lạnh buốt gợi nhớ những kỷ niệm kinh hãi, về một cuộc chuyển mình đau đớn khi người dân quê hương quyết định đánh đổi luống cải, bờ lúa lấy hy vọng phù du từ con tôm.

Tiếng gió kinh hãi từ mùa đìa năm cũ

Gió tháng Mười khô khốc, ráo hoảnh cứ thổi miết về xóm rạch Mồ Côi, khiến má không thể nào chợp mắt. Bà dậy sớm, lặng lẽ nhóm lửa nấu ấm trà mang ra chòi vuông đặt cạnh ba. Má hiểu rằng, ông cũng đang thao thức, bởi đêm nay những kỷ niệm chợt như cơn gió lớn tràn về, mang theo sự kinh hãi vô hình. Ngoài chòi, ba nghe tiếng gió như tiếng lũ cá rô đang đớp móng dưới ánh trăng, giật mình quẫy mạnh. Ông nghe như tiếng dao yếm chặt mạn cá trên mặt thớt bằng gỗ mù u, rồi phảng phất mùi tanh nồng quen thuộc của khạp cá muối chưa kịp chao thành nước mắm.

Chính tháng này năm ngoái, rạch Mồ Côi bước vào mùa đìa, thời khắc thu hoạch cá đồng lớn nhất trong năm. Vẫn là cơn gió này, khi nước trên đồng đã rút cạn, những đàn cá sau một mùa mưa rày đây mai đó, sau những bữa ăn no trên chân ruộng, chân rừng, bỗng dưng buồn tình rủ nhau rút xuống mương đìa, cất lên khúc ca quen thuộc: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục cũng ao nhà…”.

Nhìn mặt đìa ục sôi, ruột gan hai ông bà lại nôn nao khó tả. Họ không ngủ được, chỉ chăm chú lắng nghe tiếng cá lóc táp phập trên mặt nước, âm thanh gọn ghẽ như tiếng trái dừa rụng. Ba tấm tắc: “Con này chắc cả ký lô rồi nghen bà”. Má liền phản bác: “Hỏng tới đâu ông ơi, chừng nửa ký là cùng, cá lóc táp nghe hờm vậy chớ”.

Ba chỉ cười, nói khẽ: “Già đầu rồi hổng lẽ tui cãi qua cãi lại với bà như con nít”. Má cười hiền, châm một bình trà đậm đặc, bưng lại cửa sau rủ ba ra ngồi. Vừa tráng nước nóng lên mấy chiếc ly, má vừa hỏi: “Năm nay ông tính cữ nào thì xuống lưới?”. Má biết năm nào ba cũng chờ cận Tết, chờ đám con cháu xa nhà về đông đủ. Chúng bôn ba nơi thành thị, chen chúc nhọc nhằn suốt một năm trời, khi về phải đãi cho tụi nó mấy bữa cá đồng đã đời, cho bõ những ngày thiếu thốn hương vị quê nhà.

Vị cá đồng và khoảnh khắc sum họp

Ba má làm nông dân cả đời, tuy nghèo khó nhưng luôn xem mùa đìa là niềm vui lớn nhất dành cho đàn con. Ở thành phố, chúng cũng đủ đầy vật chất, nhưng chẳng bao giờ được sống đầm ấm như vầy, được đứng ngồi quây quần, rối rít bên nhau ngoài bờ chuối, bờ dừa mát rượi. Khói bếp tỏa quanh nồng nàn, khung cảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày chúng còn lên tám, lên mười.

Nhìn cách chúng ăn uống, ba má mừng vì con vẫn chưa thay đổi, tính ý hồi nhỏ sao giờ vẫn vậy. Thằng Hai và con Năm mê mẩn cá lóc, khoái đến thấu trời món cá nướng rơm chấm muối ớt, kèm với rau húng lủi và bắp chuối non. Hai đứa vừa ăn vừa xuýt xoa: “Trời ơi mùi khói này nó thơm, ngọt làm sao đâu á, nghe như đang ở giữa đồng lúa quê mình, như hồi còn đi dận cù bắt chuột hén anh”.

Thằng Ba ngồi một góc khác lặng lẽ hơn, chắt lưỡi hít hà với mấy con cá trê vàng mới nướng xong. Nó ngồi cẩn thận trở cá, mắt lom lom nhìn con cá bóng nhẫy, mỡ nhỏ xèo xèo trên bếp lửa, tô nước mắm gừng đặt tum hum trong lòng.

Riêng con Tư lại chê cá rô, cá trê, và ghét luôn cả cá lóc (hồi năm tuổi, nó nhào vô cái lu đang rộng cá nên bị cá lóc phóng trúng, con mắt sưng như trái ổi, xanh dờn). Nó lăng xăng làm món cá sặc nấu cơm mẻ, nó lý giải cái tạng nó nghèo khó, nhăn nhó nên chỉ hợp với cá sặc. Anh chị nó cười ha hả, trêu chọc: “Ui cha, ba má ơi, nó nói vậy chớ ở thành phố bây giờ ăn cá sặc là sành điệu lắm, nhiều bữa muốn ăn cá sặc kho sả ớt mà kiếm không ra, thèm muốn rớt nước mắt luôn vậy đó”.

Má ngồi nhìn đàn con cháu đang cười đùa ăn uống rôm rả, lòng chợt nhớ thằng Út vừa mới nhập ngũ. Cữ này ở đơn vị, không biết con có nghe gió về không, có thèm không một nồi canh chua cá rô đồng nấu với bông so đũa?

Cái hẹn của đất trời và lời thề đổi đời

Má khum tay che cho khỏi chói, ngước lên nhìn những chùm bông so đũa nở trắng xóa trên đầu. Những thứ bông rau đồng quê này dường như cũng có hẹn với mùa đìa. Đám con má chỉ cần vói tay là hái được những đọt chùm ruột non, những đọt sung hơi chát nhưng khi cặp với cá lóc nướng rơm thì ngon không biết tả vào đâu. Mớ rau đắng đất ngoài bãi thì đang thời non lẩy bẩy, gừng thì đang vào độ già nồng nàn, trái giác treo từng chùm xanh xanh trên lùm lức. Đất quê nhà cũng yêu thương những đứa con xa như tình thương vô bờ của ba má vậy.

Nhưng năm nay, bông so đũa đã nở trắng bờ rạch, bờ mương mà mùa cá cũ thì đã thôi không còn nữa. Ba nhìn ra cánh đồng sâu hút, tối mênh mông, gió mênh mông nghe lạnh lòng quá mới khẽ nhắc: “Năm ngoái cữ này mình nhậu mệt nghỉ bà hén”. Má cười, đáp: “Ờ ờ”.

Má nhớ bữa làm đìa nhà Tư Nổ, má với mấy chị em, mấy chị sui xỉn quá trời đất. Nghĩ lại mới thấy, đàn bà con gái xứ này thật hết biết, uống rượu còn hơn cả đàn ông, nhậu xình xang còn bày đặt nhảy nhót cà dựng (chứ có biết rumba, chachacha gì đâu). Nhắc lại còn nghe mắc cỡ quá chừng. Hôm đó mặt má đỏ gay, đầu tóc đầy vảy cá, người già thở không ra hơi mà ca vọng cổ ngời ngợi. Lúc về, ba còn chọc: “Tui thấy bữa nay bà đẹp hơn mọi bữa à đa”. Má cười mắng yêu: “Ông già quỉ!”.

Nhắc lại chuyện cũ, ba nói mùa đìa năm ngoái là mùa vui nhất mà cũng buồn nhất, vì đó là mùa đìa cuối cùng. Bà con bàn tán xôn xao chuyện năm tới rạch Mồ Côi chuyển qua nuôi tôm. Họ nghe nói người ta bên Năm Căn, Ngọc Hiển nuôi tôm ai cũng cất được nhà tường. Xóm rạch mình còn nghèo quá, chỉ hai vụ lúa với một mùa đìa. Ai có vườn rộng trồng cải, trồng bầu được thêm chút tiền huê lợi nhưng đâu cũng vào đó hết, sống đắp đổi không có dư. Bây giờ Nhà nước cho nuôi tôm thì mừng chứ!

Hôm đó, chỉ có ba má là bần thần, bối rối. Hồi nào giờ cây lúa vẫn chung thủy với mình, bây giờ quay mặt với nó, không lẽ tệ vậy. Má nói với ba: “Vậy rồi năm tới mình có tụ lại vui như vầy không?”. Tư Nổ cười khà khà: “Được chớ! Nghe nói nuôi tôm một năm bằng chục năm làm ruộng đó. Năm tới tui xây nhà lầu, bà con kéo nhau lên sân thượng nhậu tép luộc mát trời. Mà hỏng chừng tui còn sắm ti vi màu, đầu máy video, sắm điện thoại di động…”. Tư Nổ ngẩn ra, nước miếng chảy xuống chỗ môi chẻ thâm sì: “Tướng tui mà cầm điện thoại di động coi sang lắm nghen”.

Vỡ mộng và những vụ ly tán lặng lẽ

Ba nhớ lời Tư Nổ hoài, vì anh đã vẽ bức tranh con tôm mù mịt thành những điều rất thật, thật như đang rờ đụng vậy. Vậy mà… đêm hôm qua ba phải rượt Tư Nổ qua mấy cái bờ mới túm được anh. Cả hai loi ngoi ướt sũng, ngồi trên bờ. Tay ba vẫn còn nắm chặt chiếc áo rách te tua của anh Tư, ba nhắc lại câu nói xưa của anh, không sai một chữ nào. Anh bật khóc, khóc vì cùng đường đi đổ lúa trộm tôm vuông ba bị ba rình bắt, hay khóc vì thương tiếc mùa xưa đã không còn?

Rồi vợ Tư Nổ chạy lại, chỉ biết lí nhí xin tha cho chồng. Chị nói hồi này tôm tép không có, tụi con khổ quá, bần cùng quá chú thím ơi… Má ngậm ngùi nhìn người phụ nữ này. Năm trước, một tay chị còn câu eo ếch, tay kia cầm cây chổi nhảy cà tưng, sao giờ lại tới nông nỗi này?

Bốn người ngồi với nhau lặng lẽ hồi lâu. Day qua chị Tư Nổ, má nói: “Thôi, coi như là lá lành đùm lá rách. Rách ít đùm rách nhiều, rách nhiều đùm rách nát, bây biết mà tao cũng nghèo”. Rồi má trút mớ cá phi rộng trong xô ra giỏ, giúi vào tay chị Tư, biểu chị đưa chồng về, kiếm đồ khô mà thay để vầy cảm lạnh chết. Cá phi là loại cá không ai màng, nhưng lúc này lại quý biết chừng nào.

Lúc vô nhà thấy cửa mở toang hoang, cái lư hương không cánh mà bay mất. Ba má tỉnh rụi, không cần hô hoán lên làm chi. Hôm rồi mất ông Tà ngoài miễu, hôm trước nữa thì mất cái lon cặm nhang trên bàn thông thiên. Ba cười buồn, nói: “Mai là tụi nó trả lại thôi, tụi nó mượn để cầu số chớ đâu”. Tôm chết hoài cũng buồn, nên rủ nhau đánh số đề chơi, may ra tìm được vận may cứu vớt cuộc đời.

Nhưng may thì chưa thấy, rủi lại cứ vào. Xóm rạch Mồ Côi vừa tiễn đưa một gia đình ly xứ. Chú thím Chín bên kia rạch thua sạch nhà cửa đất vườn, đành xuống ghe bắt đầu một cuộc nổi trôi vô định. Hôm ra bến, chú mếu máo nắm tay ba: “Biết chừng nào vợ chồng tui mới gặp lại anh chị sui để tụi mình nhậu với nhau tối trời đất”.

Phải chi hôm đó trời có mưa là cảnh mủi lòng y hệt trong phim. Bây giờ ba vẫn thường đứng nhìn về phía nền nhà của bạn, cái nền phèn váng trắng, xốp như nước đá bào. Bên phải vẫn còn nguyên chỗ cầu ao, nước mặn đã ngấm vào, nước trong thấy đáy, chẳng có bông súng nào mọc ở đó, chỉ thấy rong nhớt xanh dờn trôi lình phình.

Chén trà đắng và nỗi buồn của người mẹ

Xóm rạch bây giờ buồn tênh, chẳng còn cái gì để vui chung với nhau như hết mùa lúa, như xong hội đìa của năm cũ. Người trúng tôm thì lẳng lặng không dám khoe vì sợ trộm. Người không có thì cứ trao tráo khấn vái trời. Cứ mười vuông tôm thì thất bát hết bảy vuông, vì không ai hiểu rành con tôm hết, không ai biết con tôm nó đỏng đảnh cỡ nào, vậy mới khổ sở.

Nước mặn thấm vào vườn tược trụi lơ, xơ xác hệt như vừa qua một cơn bão lớn. Cây trái teo héo, phải chặt năm trái dừa mới được một ca nước. Cọng cải, lá rau, trái ớt, trái bầu… giờ cũng phải bỏ tiền ra mà mua.

Nửa đêm nằm nghe người nào đó ca văng vẳng ở mấy chòi trên, giọng sao mà buồn rượi đến thế. Quê xứ này như cô con gái trót lỡ “khôn ba năm, dại một giờ”, bắt đầu nhớ tiếc vì mình đã đứng núi này trông núi nọ. Ba nhìn má qua ánh đèn chong leo lét, chợt giật mình: đôi gò má của người vợ hiền năm ngoái còn hồng hào vì rượu, nay đã seo sắt, quắt queo vì trơ trọi dưới nắng và gió trời.

Hồi lâu ba mới nói: “Tiền bán tôm mót hổm rày được bao nhiêu bà? Sớm mai này bà ra chợ huyện lựa mua một ít cá rô mề, mốt là thằng Út về phép, nấu cho con nó nồi canh chua cá rô bông so đũa, tội nghiệp nó…”.

Má gật đầu, khẽ hớp một ngụm trà, thương đắng đót đám con xa nhà. Tết này, ừ, tết này con của má về, mà ba má chẳng có gì cho tụi nó. Sớm nay, trà vẫn pha nửa vốc tay như mọi bữa mà sao nghe đắng quá vậy nè?

Nguyễn Ngọc Tư

Tiếng gió kinh hãi: Vỡ mộng đổi đời ở rạch Mồ Côi

Posted in Truyện ngắn

Bài tham khảo