Lăng Tứ Kiệt, tọa lạc tại thị trấn Cai Lậy, Tiền Giang, là nơi thờ tự bốn vị anh hùng dân tộc đã dũng cảm đứng lên chống thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX. Lễ tưởng niệm hằng năm vào Rằm tháng Tám không chỉ là nghi thức trang nghiêm mà còn là dịp để cộng đồng tụ hội, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc, đồng thời nêu cao tinh thần bất khuất của Tứ Kiệt làm gương sáng cho thế hệ mai sau.
Di tích lăng Tứ Kiệt: Nơi lưu giữ tinh thần bất khuất
Lăng Tứ Kiệt là tên gọi chung của khu mộ và đền thờ tôn kính bốn vị nghĩa sĩ kiên trung tại Cai Lậy, gồm: Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận (tên khác là Trần Quang Thận), Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (cũng được gọi là Ngô Tấn Đức). Bốn vị anh hùng này đã lãnh đạo nghĩa quân cùng nhân dân vùng Cai Lậy–Cái Bè kiên cường kháng chiến chống sự xâm lược tàn bạo của Pháp trong những thập niên cuối thế kỷ XIX.

Sau khi Tứ Kiệt hy sinh vào ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhân dân địa phương vì cảm kích và kính trọng đã bí mật lập mộ và xây dựng đền thờ tại khu vực nay là thị trấn Cai Lậy. Để bày tỏ sự tôn kính vô bờ, người dân thường gọi di tích này là Lăng Tứ Kiệt.
Võ công và chí khí kiên cường của tứ vị anh hùng
Theo những lời truyền tụng trong dân gian, bốn vị anh hùng đều là những con người phi thường: Họ sở hữu thân hình cao lớn, vóc dáng cương nghị, làn da đồng hun, cùng với sức khỏe vượt trội và tài năng võ nghệ xuất chúng. Quan trọng hơn, họ đều mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng.
Khi giặc Pháp đặt chân xâm lược tỉnh Định Tường vào năm 1861, bốn ông đã nhanh chóng gia nhập lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Cùng với các đồng chí, họ đã tham gia vào vô số trận đánh ác liệt tại các chiến trường trọng yếu như Ba Giồng, Chợ Gạo và Mỹ Tho, lập nên nhiều chiến công vang dội khiến quân thù khiếp sợ.
Đến năm 1866, sau khi cuộc khởi nghĩa Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man và căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ, bốn ông không hề nản lòng. Họ quay trở về Cai Lậy, tiếp tục chiêu mộ nghĩa sĩ, tổ chức lại lực lượng để giữ vững ngọn lửa kháng chiến chống Pháp.
Chí nguyện “sinh vi tướng, tử vi thần”
Sự nghiệp kháng chiến của Tứ Kiệt gặp bước ngoặt đau thương vào ngày 01 tháng 01 năm 1871, khi cả bốn vị anh hùng đều sa vào tay quân giặc. Bọn thực dân đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc nhất nhằm buộc các ông phải khuất phục. Chúng vừa mua chuộc, dụ dỗ, vừa dùng hình thức tra tấn dã man tột cùng. Đáng sợ hơn, chúng còn bắt cả người thân của Tứ Kiệt ra đánh đập tàn bạo để rúng ép ý chí. Tuy nhiên, trước sau như một, bốn ông vẫn giữ vững khí tiết, tuyên bố hùng hồn: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần), kiên quyết không chịu đầu hàng.
Bất lực trước ý chí sắt đá và tinh thần bất khuất của các nghĩa sĩ, thực dân Pháp đã quyết định xử chém bốn vị anh hùng dân tộc tại chợ Cai Lậy vào ngày 14 tháng 2 năm 1871 (nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ). Dã man hơn, chúng còn bêu thủ cấp của Tứ Kiệt suốt bảy ngày ròng nhằm khủng bố và uy hiếp tinh thần của người dân địa phương, sau đó vùi đầu các ông xuống mé ruộng ven đường.
Ngôi miếu thờ Quan Công và bài vị Tứ vị thần hồn
Cảm phục trước tấm gương anh dũng của Tứ Kiệt, nhân dân Cai Lậy đã bí mật mang chôn cất thủ cấp của bốn ông và lập mộ, hương khói hết sức trang nghiêm. Tại làng Mỹ Trang, ông Nhiêu học Đặng Văn Ngưu đã dựng một ngôi miếu thờ ngay tại khu đất mà giặc bêu đầu các ông. Ngôi miếu được lợp ngói âm dương. Để che mắt chính quyền thực dân đang đàn áp gắt gao, người dân gọi đây là chùa Ông, vì phía trước lập bàn thờ Quan Công (tượng trưng cho tinh thần trung nghĩa), còn phía sau lại khắc bài vị với bốn chữ “Tứ vị thần hồn” được sơn son thiếp vàng rực rỡ.
Vào năm Giáp Thìn (1904), một trận bão lớn đã làm ngôi miếu đổ sập. Ông Nhiêu đã di dời ngôi miếu về làng Thanh Sơn (nay là thị trấn Cai Lậy). Hiện nay, ngôi miếu vẫn tọa lạc tại khu phố 1, cách lăng chính khoảng hơn một trăm mét.
Huyền thoại về tiếng quân reo, ngựa hí
Ngôi mộ nơi chôn cất bốn thủ cấp từ năm 1871 ban đầu chỉ được đắp bằng đất, bao quanh là hàng rào cau sơn vôi trắng. Gần đó có một cây còng cổ thụ tỏa bóng mát, tạo nên bầu không khí linh thiêng, trầm mặc. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, người dân địa phương thường truyền tai nhau rằng, trong những đêm thanh vắng, tại khu mộ bốn ông lại vang lên tiếng quân reo, ngựa hí. Những huyền thoại về Tứ Kiệt cứ thế lan truyền khắp vùng đất này.
Năm 1938, ông Đội Lung, một đội lính mã tà cảm mộ tấm lòng trung nghĩa của bốn vị anh hùng, đã thuê thợ làm một tấm bia đá đặt tại đầu mộ. Bia khắc dòng chữ Hán: “Đại Nam Mỹ Tho tỉnh, Thanh Hòa thôn, tứ vị cựu quan chi mộ”.
Mãi đến năm 1954, được sự đồng ý của quận trưởng Lê Văn Thai, nhân dân mới xây dựng lại ngôi miếu và bốn ngôi mộ tượng trưng bằng xi măng song song, gần sát nhau, cùng hàng rào sắt kiên cố ngay trên nền đất cũ. Khu vực này chính là Lăng Tứ Kiệt ngày nay. Năm 1967, nhân dân Cai Lậy tiếp tục trùng tu ngôi miếu và khu mộ với quy mô lớn hơn, bao gồm miếu thờ bên trong và nhà khách bên ngoài. Tại lăng, Ban Quý tế được thành lập để lo việc cúng bái và trùng tu.
Ngày hội lớn tại Tiền Giang
Lễ tưởng niệm Tứ Kiệt được tổ chức hằng năm, kéo dài trong hai ngày 15 và 16 tháng 8 âm lịch. Vào dịp này, người dân địa phương tổ chức lễ viếng lăng trong không khí hết sức trang nghiêm. Dân chúng từ khắp các vùng lân cận kéo về dâng hương, tạo nên một cuộc lễ lớn mang tính cộng đồng, trở thành ngày hội truyền thống tại địa phương.
Ngoài ra, vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch hằng năm, nhân dân Cai Lậy cũng tụ tập đông đảo về đây để tảo mộ và tổ chức lễ giỗ, thể hiện lòng thành kính sâu sắc đối với bốn ông vì nước quên mình, vì dân giết giặc, nêu cao tấm gương sáng ngời cho hậu thế.
Theo tương truyền, các vị anh hùng rất linh ứng, thường âm thầm phù trợ nhân dân trong mọi việc, trừ gian diệt bạo, và trợ giúp các việc nghĩa, giúp dân vượt qua khó khăn.
Đến thăm Lăng Tứ Kiệt, du khách không chỉ chiêm nghiệm được lịch sử hào hùng mà còn hiểu thêm về tấm lòng thủy chung, son sắt của người dân địa phương đối với những anh hùng đã góp phần điểm tô cho bốn chữ vàng Địa Linh Nhân Kiệt của vùng đất Tiền Giang mãi mãi ngời sáng.

