Menu Đóng

Cù lao Ông Chưởng: Nguyễn Hữu Cảnh, tranh kiếng và nghề mộc

Ảnh sepia cổ điển chụp Dinh thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại cù lao Ông Chưởng, phía trước có nghệ nhân đang tỉ mỉ vẽ tranh kiếng.

Cù lao Ông Chưởng, vùng đất phù sa trù phú nơi hợp lưu sông Tiền, sông Hậu, từ lâu đã đi vào ca dao như một biểu tượng của sự sung túc và huyền sử. Nơi đây không chỉ gắn liền với công lao khai mở phương Nam của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh mà còn là cái nôi của những dòng nghề thủ công truyền thống độc đáo, tạo nên bản sắc văn hóa sâu sắc cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Nguyễn hữu cảnh và dấu ấn trên vùng cù lao lịch sử

Từ thuở xa xưa, người dân đã truyền miệng những câu ca dao gợi nhắc về sự giàu có của vùng đất này:

“Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”

Nhà sử học Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí đã ghi chép chi tiết về vùng đất thiêng này: “Lễ công giang thượng khẩu tục gọi là vàm Ông Chưởng; cửa sông nầy rộng 8 tầm, sâu 8 thước ta. Trước cửa sông có cù lao nhỏ và nhân tên sông mà gọi tên cù lao ấy (cù lao Ông Chưởng)… Bờ phía tây thượng khẩu có miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn (Nguyễn Hữu Cảnh) vì dân ở đấy cho rằng ông có công dẹp yên Cao Miên, khai thác đất này, nên nhân dân nhớ công đức mà lập miếu thờ”. Sự tôn kính dành cho vị Khai quốc công thần này còn được nhà thơ Nguyễn Liên Phong khắc họa rõ nét trong tác phẩm Nam kỳ phong tục diễn ca (năm 1909), nhấn mạnh vị trí quan trọng của Dinh Ông Chưởng trong lòng người dân:

“Sông Lễ Công chỗ cù lao,
Miếu quan Chưởng Lễ thuở nào lưu lai.
Đồng Nai cũng có miễu ngài,
Nam Vang, Châu Đốc lại hai chỗ thờ.
Coi ra hiển hách bây giờ,
Cù lao Ông Chưởng tư cơ đứng đầu”.

Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh

Trên địa hạt cù lao Ông Chưởng, người dân đã lập nên không ít đền thờ để tri ân công đức của vị tiền nhân. Các đền này thường được gọi bằng những cái tên thân thuộc như “Dinh thờ Ông Lớn” hoặc “Dinh Ông”. Theo lời kể của ông Ngô Văn Lữ (Hai Lữ), 60 tuổi, người từng hiến đất, Dinh thờ Quan Thượng đẳng đại thần Nguyễn Hữu Cảnh ở Vàm Sau sau đó được dời về Long Kiến (An Thạnh Trung). Tuy nhiên, về nguyên nhân mất của ông, có nhiều dị bản. Theo Sơn Nam, sau khi dẹp yên giặc cướp ở sông Tiền, quân của Nguyễn Hữu Cảnh trở về trú đóng tại rạch “Lòng Ông Chưởng” để chờ chỉ thị. Chi tiết hơn, Gia Định thành thông chí chép rằng, đêm 26 tháng 4 Canh Thìn (1700), Nguyễn Hữu Cảnh nằm mộng thấy một vị thần khuyên nên rút quân khỏi nơi “ác địa”.

Mặc dù việc biên phòng chưa hoàn thành, nhưng phần lớn quân sĩ lại mắc bệnh dịch. Ông cũng bị nhiễm bệnh, hai chân tê bại. Dù bệnh nặng, đến ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5), ông vẫn gắng gượng ra dự tiệc để khích lệ tướng sĩ, sau đó ông trúng phong, thổ huyết, bệnh tình càng trầm trọng. Ngày 14, ông kéo binh về và qua đời tại Sầm Giang (Rạch Gầm) vào ngày 16. Để tưởng nhớ công ơn mở cõi phương Nam, nhân dân đã lập đền thờ ông tại nhiều nơi, trong đó cù lao Ông Chưởng có hai dinh chính là Dinh Ông Long Kiến và Dinh Ông Kiến An. Dinh Ông Kiến An sau này do đất sạt lở nên chia tách, tạo thêm Dinh Ông thị trấn (Chợ Mới).

Dinh thờ Ông Lớn: Nơi lưu giữ tấm lòng người phương nam

Dinh Quan Chưởng binh Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại thị trấn Chợ Mới được xây dựng uy nghi trên diện tích khoảng 2.000m2, mang đậm phong cách kiến trúc đặc trưng của Nam Bộ cùng những nét văn hóa dân tộc truyền thống. Phía trước cổng dinh là một cây đa cổ thụ rợp bóng, gốc lớn, ước chừng đã hơn 300 năm tuổi. Công trình này đã được tỉnh An Giang công nhận là Di tích văn hóa – lịch sử. Theo ông Nguyễn Quang Thâm, 81 tuổi, cựu thành viên ban tế tự Dinh Ông thị trấn, dinh này có quy mô lớn hơn cả, nằm đối diện Dinh Ông Kiến An, ngăn cách bởi sông Ông Chưởng.

Kiến trúc cổ kính của Dinh Ông Long Kiến
Kiến trúc cổ kính của Dinh Ông Long Kiến

Lễ hội Kỳ yên (lễ giỗ Ông) thường niên là sự kiện văn hóa lớn nhất tại đây, thu hút đông đảo người dân trong và ngoài vùng. Lễ hội lần thứ 311 (năm Tân Mão, 2011) đã diễn ra long trọng trong 3 ngày 8, 9 và 10 với nhiều nghi thức trang nghiêm như: lễ thỉnh các vị linh thần từ dinh đến Linh miếu Hội đồng, nghĩa trang liệt sĩ, chùa Ông, đình thần Chợ Thủ, đình thần Mỹ Luông, sau đó trở về làm lễ an vị, lễ tiên nghinh, chánh tế, xây chầu và tiếp giá đại bội. Bên cạnh các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội còn có phần hội với vui chơi, thể thao và rước đoàn hát bội biểu diễn 3 vở tuồng truyền thống lừng danh là Lưu Kim Đính, Tiêu Anh PhụngSan Hậu.

Dòng tranh kiếng chợ mới và nghệ thuật thờ cúng dân gian

Từ thuở khai hoang, cù lao Ông Chưởng đã nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh không chỉ bởi sự trù phú mà còn nhờ những nghề thủ công tinh xảo, trong đó có nghề vẽ tranh kiếng Long Điền và Long Điền B, mà giới nghiên cứu văn hóa dân gian thường gọi là “Dòng tranh Chợ Mới”. Dòng tranh này bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ năm 1954 do nghệ nhân Trần Văn Ty (Mười Ty) phổ biến. Trước đó, ông học và làm nghề tranh kiếng theo trường phái Lái Thiêu tại Cần Thơ.

Khi về Chợ Mới, ông Mười Ty nhận thấy người dân địa phương theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, hoặc Phật giáo Hòa Hảo rất ưa chuộng việc thờ cúng tổ tiên với bốn chữ “Cửu huyền thất tổ”. Từ đó, ông sáng tác những mẫu tranh thờ chuyên biệt cho vùng này. Đồng thời, ông cũng học theo cách vẽ của các họa sĩ nổi tiếng như Lê Trung, Hoàng Lương để sáng tạo các loại tranh treo cửa buồng theo các tích truyện dân gian quen thuộc như Tấm Cám, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Phạm Công – Cúc Hoa, và Lưu Bình – Dương Lễ. Thị trường tranh kiếng Chợ Mới mở rộng khắp Nam Bộ, khiến sau 20 năm hành nghề, số học trò của ông Tỵ qua nhiều thế hệ đã lên tới khoảng một ngàn người, tạo nên một ngành nghề hưng thịnh.

Trong quá khứ, khi ghé qua chợ Bà Vệ (Long Điền), người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh hai bên đường phơi đầy những bức tranh kiếng vừa hoàn thành, và nhiều chiếc xe đạp chở tranh kiếng tỏa đi khắp nơi tiêu thụ. Tuy nhiên, hiện nay nghề này đã thu hẹp đáng kể. Theo ông Nguyễn Thanh Hòa, 47 tuổi, chủ cơ sở tranh kiếng Thanh Hòa (ấp Long Tân, Long Điền), hiện tại chỉ còn khoảng 10 gia đình bám trụ với nghề. Ông chia sẻ, đây là nghề gia truyền mà ông theo đuổi bởi vẫn có thể mang lại cuộc sống ổn định. Cơ sở của ông khá quy mô, sử dụng hơn 10 thợ. Để đạt được tay nghề cao và mức lương tốt, thợ phải có năng khiếu và học nghề trong suốt 3 năm. Khoảng thời gian này đã được rút ngắn nhiều so với trước đây vì tranh kiếng hiện nay đã được ứng dụng kỹ thuật in lụa. Tranh in lụa được sản xuất theo các chủ đề đa dạng: tín ngưỡng, sự tích, phong cảnh đồng quê, vinh hoa phú quý, công cha nghĩa mẹ…

Những sản phẩm này được hoàn thành theo đơn đặt hàng sỉ. Tranh in lụa có ưu điểm sản xuất nhanh, màu sắc sắc nét, giá thành rẻ nên đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Sản phẩm của ông Hòa được lái buôn chở đi khắp Đồng bằng sông Cửu Long, thậm chí xa nhất là đến Nha Trang. Ngoài tranh kiếng truyền thống Nam Bộ, ông Hòa còn sản xuất tranh kiếng phục vụ nhu cầu của đồng bào Khmer. Ông cũng nhận vẽ tranh tay theo yêu cầu đặc biệt của khách, do vợ ông, bà Lê Thị Tám, 46 tuổi, đảm nhận.

Tranh vẽ tay phải tuân theo nguyên tắc độc đáo của tranh kiếng: những chi tiết đáng lẽ vẽ sau trên tranh giấy (như mắt, mũi, gân lá, bóng) thì phải vẽ trước vì tranh được vẽ ở mặt sau của kiếng. Với nguyên tắc đó cùng tay nghề điêu luyện (học và làm nghề từ năm 8–9 tuổi), bà Lê Thị Tám đã tạo ra nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị, và đã được huyện Chợ Mới trao tặng giấy khen “Bàn tay vàng”.

Nghề mộc chợ thủ: Sự giao thoa của tài hoa và nguồn vật liệu

Song hành cùng nghề tranh kiếng, nghề mộc thủ công tại Chợ Thủ (Long Điền A) vẫn hoạt động rôm rả và không ngừng phát triển. Theo nhà nghiên cứu Sơn Nam, Chợ Thủ là cách gọi rút gọn của Thủ Chiến Sai hay Chiến Sai Thủ Sở. Chiến Sai vốn là tên gọi trại từ Kiến Sai (tên Khmer là Kiên Svai, nghĩa là chòm cây xoài), còn Thủ là đồn gác bảo vệ việc đi lại trên sông rạch. Nhờ nguồn gỗ súc dồi dào từ Campuchia đưa về, kết hợp với tay nghề khéo léo của thợ mộc miền Trung di cư, ngành mộc Chợ Thủ đã nhanh chóng lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm mộc từ Lái Thiêu (Bình Dương) và Biên Hòa (Đồng Nai).

Ông Lê Văn Toản, 70 tuổi, chủ một cơ sở mộc tại đây, cho biết ông được truyền nghề từ cha ông, kế tục ông nội. Sản phẩm mộc Chợ Thủ được người dân Nam Bộ hết sức ưa chuộng, bao gồm các loại hàng trang trí nội thất như tủ thờ, bàn ghế, bộ sa lông, đến các sản phẩm cao cấp hơn như cửa nhà, tay vịn cầu thang. Tất cả đều được gia công bằng máy móc hiện đại, nhưng sau đó, các chi tiết chạm khắc, hoa văn, họa tiết vẫn được chăm chút tỉ mỉ bằng tay để đạt được độ sống động và tinh xảo, cuối cùng là được đánh véc-ni hoặc sơn PU cao cấp.

Trong nhiều thập niên gần đây, nghề mộc Chợ Thủ đã lan rộng tới chợ Bà Vệ. Ông Phan Hồng Đảm, 61 tuổi, người có thâm niên trong nghề, cho hay thợ mộc Bà Vệ không hề thua kém Chợ Thủ, sản xuất đủ loại mặt hàng theo nhu cầu thị trường và cũng sử dụng máy móc để tăng năng suất. Ông kể: “Tủ chén đi Sóc Trăng, Cà Mau đóng không kịp lái hối liền liền”. Ông giải thích thêm rằng, một chiếc ghe trên 10 tấn có thể chở khoảng 100 cây tủ chén (là bộ tủ chén đã đóng xong, tháo rời và ráp lại khi đến nơi). Dù hàng gỗ gia dụng Bà Vệ không chú trọng nhiều vào tính mỹ thuật cao cấp như sản phẩm Chợ Thủ, đây vẫn là một ngành nghề thịnh vượng, nuôi sống nhiều gia đình. Cạnh nghề mộc, ngày xưa Chợ Thủ còn nổi tiếng với nghề ươm tơ dệt vải. Nguyễn Liên Phong đã miêu tả sự hưng thịnh này trong Nam kỳ phong tục diễn ca:

“Thủ Chiến Sai, xứ quê mùa,
Nhơn dân đông đảo, miễu chùa nghiêm trang.
Trại cưa dãy dọc, dãy ngang,
Chuyên nghề ươm dệt cả làng thói siêng.
Nam phụ (lão ấu) nội thôn (Tú Điền),
Đều là biết dệt nghề riêng trong nhà.
Xung quanh mấy chỗ gần xa
Mua hàng Chợ Thủ, tiếng đà xưa nay.
Trời sanh phong thổ cũng hay,
Trên tơ lụa đủ, dưới cây ván nhiều.
Công dung ngôn hạnh mỹ miều,
Gái hay thêu dệt, người đều thanh thao…”

Với bốn mặt sông nước bao quanh (sông Tiền, sông Hậu, sông Ông Chưởng và sông Vàm Nao), cù lao Ông Chưởng được ca dao ca tụng “có nhiều cá tôm” là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, chính nghề vẽ tranh kiếng Long Điền và nghề mộc Chợ Thủ, được hun đúc qua nhiều thế hệ, mới là những nét văn hóa dân gian đặc sắc, là niềm tự hào của người dân nơi đây.

Cù lao Ông Chưởng: Nguyễn Hữu Cảnh, tranh kiếng và nghề mộc.

Posted in Lịch sử

Bài tham khảo