Đây là một câu chuyện thấm đẫm nỗi buồn và sự đợi chờ, nơi những bổn phận vô hình của người chị đã định đoạt cả cuộc đời. Bi kịch của sự mất tích không chỉ lấy đi một đứa em trai mà còn đóng băng thanh xuân của người ở lại, buộc chị phải mang gánh nặng của một lời hứa “coi chừng em” đã không trọn vẹn. Định mệnh đã khắc họa một con đường cô độc, nơi mỗi bước chân đều là sự day dứt về quá khứ.
Những bổn phận vô hình
Năm ấy chị mười ba, em trai kém hai tuổi. Ngày mười bảy tháng mười định mệnh, ba má đi đám giỗ, để lại căn nhà cùng lời dặn dò nặng trĩu: “Ở nhà coi chừng em…”. Lời dặn ấy như một ma trận nhiệm vụ được má rải khắp không gian, từ việc canh chừng trời mưa để đem củi vào, đóng cổng rào, quét mạng nhện trên bàn thờ, đến chuyện phải lội bộ ra tiệm tạp hóa mua gạo về nấu cơm. Kể cả mớ cá rô còn lại cũng cần được kho tiêu cho bữa ăn.
Chị có thể hoàn thành mọi việc một mình, nhưng nỗi ức chế lớn nhất là thấy em trai cứ cà nhổng, chạy chơi vô tư lự với những cánh chuồn chuồn. Ba thường dạy phải chia việc, mỗi người một bổn phận: con trai kiếm cá, con gái hái rau; con trai ra ruộng rẫy, con gái lo chuyện bếp núc. Thậm chí, một quy luật ngầm mà hai chị em tự hiểu, đó là khi con trai thành đàn ông sẽ có bổn phận đưa tay đánh, còn con gái đã thành đàn bà thì phải giơ thân ra chịu đòn.
Những bài học về bổn phận đã thấm vào máu thịt, khiến chị không thể từ chối khi em trai đòi đi mua gạo thay vì phải bắc ghế quét mạng nhện bàn thờ. Lẽ làm chị, chị buộc phải nhường em.
Chuyến đi định mệnh và sự lạc lối
Dù rất muốn được tự mình ra tiệm để săm soi những cây kẹp tóc mà chị thèm muốn, chị hiểu tiệm tạp hóa cũng là thiên đường của em trai, nơi những viên kẹo đủ màu sặc sỡ tựa như bong bóng đang chờ đợi. Em là đứa trẻ hay chểnh mảng; đường mua lúc nào cũng lẫn lộn cát và cả mấy con cuốn chiếu. Có lần đi mua đậu trắng, em về với cái túi không, đậu rơi vãi dọc đường như nàng công chúa Mỵ Châu để lại dấu vết. Lần khác, em lội sông mang gạo về, má phải đem mớ gạo ướt nhẹp ấy xay bột.
Quãng đường ngắn ngủi từ nhà đến tiệm tạp hóa bà Tư Mốt luôn ẩn chứa những kịch tính làm em chậm bước. Một ổ ong mật lộ ra từ nhánh cây gãy, một cánh diều ai đó mắc kẹt trên đọt so đũa, hay chỉ là một tiếng chim hót gần bên… đều đủ sức níu chân em lại mươi phút, vài giờ, thậm chí là cả một bộ phim võ thuật chiếu ké như Ngôi chùa Thiếu Lâm tự đang mở ở nhà bà Tư Mốt. Chính vì vậy, khi trưa đã quá bữa mà gạo chưa về, chị chỉ nghĩ em vẫn còn đang hóng hớt ở đâu đó, mặc kệ mẻ cá kho nằm nguội lạnh trên bếp chờ cơm.
Hai mươi năm mang gánh tội
Nhiều ngày trôi qua, xóm nhỏ bắt đầu nháo nhác vì sự mất tích của đứa trẻ mười một tuổi. Chị vẫn tin em chỉ đang mải chơi đâu đó. Chị giận sôi những người tỏ ra thất vọng khi không tìm thấy thi thể em dưới đáy sông hay ngoài đồng. Sự biến mất của em là một câu đố không có lời giải, một sự cà chớn của ông trời.
Nhiều tháng sau, khi ba má vẫn vật vã trong nỗi đau rã rượi, chị vẫn giữ niềm tin em sẽ về. Niềm hi vọng ấy chỉ thật sự tan vỡ khi má đặt tấm ảnh em hồi mười tuổi lên bàn thờ, đứng chung với các ông bà già đã khuất. Trong ảnh, em mặc áo thun vàng đồng phục của đội bóng nhi đồng, đang nhận giải ba cấp huyện, nghiêng mặt khoe nốt ruồi to như con ve chó, hệt như hình ảnh cuối cùng chị nhìn thấy em chạy vù đi sáng hôm ấy. Tấm ảnh là kết cuộc nghiệt ngã cho mọi sự chờ đợi, khiến hi vọng bay hơi theo ánh mặt trời. Má bắt đầu sợ thi thể em trôi ra biển, hay bị kẹt dưới chân cầu nào đó rồi âm thầm tan rã, sợ hồn em vất vưởng đói ăn.
Từ đó, em được kêu về ăn cơm trong mỗi bữa. Có lần chị quên không dọn dư ra một cái chén, ba đã bợp tai chị cắm đầu, trách rằng: “Đã kêu mày coi chừng em rồi mà…”.
Chị coi như mình đã bị định tội. Mọi lỗi lầm, dù chẳng mấy liên quan như chuột cắn ổ gà, dông làm ngã cây đu đủ, đều được quy kết cho sự không trọn vẹn của lời hứa năm xưa. Nếu mỗi lần đau trên thân thể chị mọc ra một sợi lông, thì những lần má khóc bên sông, những lần ba buông đũa giữa bữa cơm vì tiếng bầy trẻ trai đi bắn chim ngang nhà, những cái tết lặng lờ qua, những lần giở quần áo em ra giũ bụi… đã biến chị thành một con khỉ. Và nếu mỗi lần đau là một giọt nước, một hạt cát, thì đến năm ba mươi tuổi, chị đã thành một dòng sông, thành một đồi cát lớn lao mang đầy nỗi u uẩn.
Chị sống một mình, cô độc. Mỗi khi định cười giòn giã, chị chợt nhớ mình đã đánh mất đứa em. Mỗi khi định lấy chồng, chị lại nhớ đến cơn mê sảng má thảng thốt kêu tên Võ. Mỗi khi định sống cho ra con người, chị lại nhớ lúc ba lâm chung, vuốt mãi mắt ông mới chịu nhắm.
Ngôi mộ của sự chờ đợi
Chị vẫn giữ niềm tin em chỉ đi chơi đâu đó rồi sẽ về. Ngôi nhà vẫn cắm trên nền cũ, vườn cũ, kiểu cũ. Cây nào chết thì được trồng lại y giống cây đó. Đoạn rào nào gãy thì được thay thế hệt như trước. Chị đã tự chôn vùi thanh xuân của mình tại chính chỗ em guộn mấy tờ giấy bạc mua gạo vào dây lưng quần đùi xanh dương, mặc chiếc áo xám tro lấm lem mủ chuối, vẫy tay rẽ trái chạy vù về phía tiệm tạp hóa bà Tư Mốt. Lúc đi, em đã không đóng cửa rào, để mấy con gà đi qua nhà hàng xóm bươi tơi bời luống cải họ mới gieo.
Một buổi trưa, chị qua hàng xóm mượn trẻ con nhổ tóc ngứa. Đang ngủ gà gật, đang lúc hờn dỗi cái thân mình chẳng có đứa nhỏ nào để sai vặt, chị chợt nghe tiếng chó sủa bên nhà. Chị hỏi vóng qua hào ranh. Một giọng nói ngập ngừng đáp lại:
Người lạ hỏi: “Cho tôi hỏi nhà chú Mười Hưng.”
Chị đáp: “Phải rồi, nhà ba tui đó, cậu kiếm ai?”
Và câu trả lời khiến thời gian ngưng đọng: “Em Võ nè, chị Hai…”
Chị không biết mình đã về đến nhà bằng cách nào, bay, bò lết, hay nhảy ào xuống hào càn qua những dây rau muống. Chị chỉ biết mình phải về, sụp xuống trước bàn thờ, để dõng dạc thưa: “Đó, ba má thấy chưa, con đã nói là thằng Võ đi chơi mà…”.
Chị quỵ ở đó rất lâu, mái tóc xấp xải trải xòe ra đất, tấm lưng khum khum như một ngôi mộ của sự chịu đựng. Chị không hỏi em đã đi đâu suốt ngần ấy năm, vì điều đó chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Đàn ông rong ruổi đường xa, còn đàn bà thì vạ vật ngồi canh cửa; đời đã phân công như vậy rồi.
