Nghệ sĩ Ưu tú Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu, là một huyền thoại của sân khấu cải lương miền Nam, người đã khắc họa sâu đậm dấu ấn khó phai trong lòng công chúng. Từ một tài năng đàn ca tài tử bẩm sinh, ông vươn lên trở thành cha đẻ của tân cổ giao duyên, đồng thời là “người tạo danh” cho hàng loạt danh ca, danh cầm, định hình diện mạo của nghệ thuật cải lương Việt Nam với tâm hồn thi sĩ lãng mạn.
Tuổi thơ và bước khởi đầu tài hoa
Soạn giả Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh năm 1924 trong một gia đình nho học, trung nông tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Ngay từ những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã say mê đờn ca, từ tân nhạc đến cổ nhạc, thường xuyên góp mặt trong các buổi đờn ca tài tử hoặc tự mình cùng bạn bè tổ chức biểu diễn. Là người con thứ bảy trong gia đình, khi tên tuổi ông bắt đầu được biết đến trong giới nhạc sĩ, bà con lối xóm và bạn bè tài tử đều trìu mến gọi ông là Bảy Bá.
Kiến thức sâu rộng về các bài bản cải lương của ông không đến từ trường lớp chính quy, mà được tích lũy qua việc “học lỏm” các chương trình ca cổ trên đĩa nhựa và sóng phát thanh. Hơn thế, ông còn có cơ duyên tiếp xúc và học hỏi từ các nghệ sĩ gạo cội của nhiều đoàn hát danh tiếng như Văn Võ hí ban, bầu Lúa, bầu Phục, bầu Hùng mỗi khi họ về địa phương lưu diễn. Nhờ sự chuyên tâm và năng khiếu thiên bẩm, đến năm 19 tuổi, ông đã thành thạo nhiều nhạc cụ như đàn tranh, violin, guitar và nhận được vô vàn lời khen ngợi từ giới mộ điệu. Với niềm đam mê cháy bỏng, ông quyết định rời quê lên Sài Gòn, tìm đến những ban nhạc lừng danh thời bấy giờ. Tài năng xuất chúng đã giúp ông nhanh chóng có một vị trí trong dàn nhạc cổ nhạc nổi tiếng của đài phát thanh, quy tụ nhiều tên tuổi lớn như Jean Tịnh (violin), Bảy Hàm (đàn cò), Hai Biểu (đàn tranh), Chín Hòa (đàn kìm). Tại đây, ông đã cùng đệm đàn cho các danh ca như Cô Năm Cần Thơ, Ngọc Nữ, Ba Vĩnh Long, Tư Bé, và cái tên Bảy Bá bắt đầu vang danh từ đó.
Kỷ niệm sâu sắc thuở hàn vi
Những năm đầu lập nghiệp, nghệ sĩ Bảy Bá thường xuyên lui tới các chiếu đờn ca tài tử và quen biết nhạc sĩ Mười Còn, người đang đệm đàn cho đoàn kịch Năm Châu. Một sự kiện bất ngờ đã xảy ra: trước chuyến lưu diễn ra Hà Nội, nhạc sĩ đàn tranh của đoàn gặp bạo bệnh. Nhạc sĩ Mười Còn đã thuyết phục Bảy Bá tham gia đoàn đi lưu diễn ròng rã hai tháng rưỡi. Tuy nhiên, vừa trở về Sài Gòn, ông đã bị người anh trai là Huỳnh Thanh Tòng bắt về quê, không cho theo đoàn hát nữa, đặt dấu chấm hết tạm thời cho những tháng ngày phiêu bạt.

Theo lời kể của chính nghệ sĩ, trong nhóm đờn ca tài tử ở quê ông, có một người bạn khá giả mời thầy mù về dạy đàn tranh. Bảy Bá, dù không có tiền mua đàn, nhưng vô cùng yêu thích bộ môn này, nên mỗi lần thầy dạy bạn, ông lại đứng gần đó lắng nghe, học lỏm. Thời ấy, ở quê ông, nhạc tài tử chủ yếu dùng đàn kìm, đàn cò, guitar phím lõm, ít ai biết đến đàn tranh. Với năng khiếu trời phú, những ngón đàn và bài bản mà người bạn chật vật học mãi không thuộc, Bảy Bá chỉ cần nghe và quan sát đã ghi nhớ hết. Khi người bạn cho ông mượn đàn, ông đã chơi hay đến nỗi người thầy mù ngỡ ngàng, giận dữ vì tưởng học trò cũ giả vờ mời mình về dạy. Sau khi biết đó là Bảy Bá, người thầy đã phải công nhận tài năng hiếm có của ông. Người bạn vì nản chí trước sự khó khăn của đàn tranh đã tặng lại cây đàn cho Bảy Bá. Từ đó, ông ngày đêm miệt mài luyện tập, và chỉ mới 15 tuổi đã nổi danh là một danh thủ đàn tranh. Ông được anh em trong giới tôn làm nhạc trưởng, thường xuyên được mời biểu diễn trong các sự kiện quan trọng và buổi hòa ca cổ nhạc địa phương. Nhạc sĩ Sáu Quí, danh thủ đàn tranh của đoàn cải lương Con Tằm, khi về Trà Vinh thăm nhạc sư Hai Phát, đã tìm đến nhà Bảy Bá, nghe ông đàn và hết lời khen ngợi tài năng bẩm sinh, dự báo một tương lai rực rỡ trong lĩnh vực cải lương và cổ nhạc.
Sau khi cha mẹ qua đời, ông để lại gia sản cho các anh chị, một mình ôm cây đàn tranh lên Sài Gòn kiếm kế sinh nhai và xây dựng tương lai. Tại đất Sài Gòn, với ngón đàn tươi mát và sắc sảo, ông nhanh chóng được giới nhạc sĩ giới thiệu đi biểu diễn trong các buổi tiệc và đệm cổ nhạc ở Đài Pháp Á. Dù thỏa mãn niềm đam mê nghệ thuật, cuộc sống của Bảy Bá lúc bấy giờ vẫn vô cùng thiếu thốn, nghèo đói như bao nghệ sĩ bần hàn khác. Ông sống lang thang, nay nhờ nhà bạn này, mai chuyển đến xóm khác, chỉ có cây đàn tranh là người bạn thủy chung chia sẻ mọi buồn vui. Khi được báo chí phỏng vấn về kỷ niệm sâu sắc nhất thời niên thiếu, ông lấy ra một hộp gỗ cẩn ốc xà cừ, cất trang trọng trong tủ thờ cha mẹ, bên trong là một tờ “Một đồng bạc Đông Dương” mà ông đã gìn giữ như báu vật suốt nửa thế kỷ. Ông xúc động, không cầm được nước mắt khi kể lại lai lịch tờ giấy bạc ấy:
“Năm 1940, khi vừa đặt chân đến Sài Gòn vài tháng, tôi được các bạn nhạc sĩ đưa đi đờn ca trong một tiệc cưới ở Giồng Ông Tố. Đêm đó, chúng tôi đờn ca quá khuya, tôi mệt mỏi ngủ quên. Khi tỉnh giấc, các bạn nhạc sĩ đã về Sài Gòn từ lúc nào không hay. Tôi lạc lõng giữa xứ lạ quê người, không biết đường sá, không quen biết ai, mà trong túi lại không có một đồng. Đói khát và sợ hãi, tôi không biết xoay sở ra sao. Ôm cây đàn tranh, tôi đi loanh quanh từ chợ ra đến vệ đường gần cây cầu đúc, hy vọng gặp được một người quen có thể giúp đỡ, nhưng thật là vô vọng. Tôi ngồi gục mặt trên bậc xi măng của cây cầu, suy nghĩ không biết phải làm gì. Bỗng có một người vỗ vai tôi, hỏi tôi có chuyện gì buồn mà lại ngồi đây? Có lẽ ông tưởng tôi thất tình hay có ý định dại dột nên vừa hỏi chuyện, vừa dìu tôi trở lại chợ. Ông nói muốn đi ăn hủ tiếu và mời tôi ăn cùng. Khi tôi thật thà kể hoàn cảnh bơ vơ của mình, ông đãi tôi một bữa ăn thịnh soạn rồi nhét vào túi tôi đồng bạc Đông Dương này, sau đó dẫn tôi đến một người đánh xe ngựa, trả tiền xe và dặn chở tôi về Sài Gòn, bến xe ngựa bên hông ga xe lửa. Về đến đó là tôi biết đường rồi, mừng quá, cảm ơn ông lia lịa. Nhưng sao tôi lại ngu ngơ, hay quá bối rối mà quên hỏi tên ông, cũng không biết nhà ông ở đâu. Về Sài Gòn, tôi không dám tiêu đồng bạc quý giá này. Sau khi được ông Sáu Quí giới thiệu vào đờn cho đoàn Việt Kịch Năm Châu, có công ăn việc làm, có chút tiền bỏ túi, tôi trở lại Giồng Ông Tố tìm ân nhân của mình nhưng không biết hỏi ai, người đánh xe ngựa cũng đã đi đâu mất. Thành ra không làm sao đền ơn đáp nghĩa được. Tôi có viết truyện ngắn, làm thơ đăng báo và cũng đã đăng câu chuyện thật của mình, hy vọng ân nhân của tôi đọc được mà liên lạc với tôi. Nhưng năm mươi năm rồi, tôi vẫn không tìm được người đã ra ơn cứu giúp tôi trong cơn nguy khốn đó. Tôi nghĩ có lẽ ông đã ra người thiên cổ rồi. Tôi để đồng bạc ơn nghĩa này trong chiếc hộp như một gia bảo và đặt chung trong tủ thờ cha mẹ tôi, tôi thờ ông trong tâm tưởng của mình. Những dịp làm công việc từ thiện, đờn ca gây quỹ cứu trợ người nghèo đói, thương tật hoặc bị thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, tôi đều tham gia tích cực và coi đó như là noi gương của người ân nhân ẩn danh của tôi.”
Hành trình cùng Việt kịch Năm Châu
Năm 1943, Bảy Bá theo đoàn Việt Kịch Năm Châu lưu diễn từ Nam ra Bắc. Trong chuyến đi này, tài năng làm thơ, viết truyện ngắn đăng báo của Bảy Bá đã thu hút sự chú ý của nghệ sĩ Năm Châu. Ông Năm Châu đã khuyến khích và tận tình giúp đỡ Bảy Bá trong việc soạn tuồng cải lương, mở ra một con đường mới cho sự nghiệp của ông.
Cha đẻ của tân cổ giao duyên và “Người tạo danh” cho nghệ sĩ
Trong sự nghiệp sáng tác đáng nể trọng, nghệ sĩ Bảy Bá, với nghệ danh soạn giả Viễn Châu, còn được biết đến là cha đẻ của bản tân cổ giao duyên. Ông từng chia sẻ về những gian nan trong quá trình hình thành thể loại độc đáo này: “Lúc đầu có nhiều người không đồng ý, không chịu đưa bản nhạc cho tôi sáng tác lời vọng cổ. Thế là với hiểu biết về âm nhạc của mình, tôi đã tự mày mò viết lấy. Tôi cũng không ngờ khi ra đời, tân cổ giao duyên lại được khán giả đón nhận nồng nhiệt. Sau này, nhiều nhạc sĩ mới tin tưởng đưa sáng tác của mình cho tôi viết lời vọng cổ…“. Có thể thấy, chính niềm đam mê âm nhạc (cả tân lẫn cổ) từ thuở thiếu niên đã giúp ông tạo nên một “kỳ duyên” cho hai loại hình tưởng chừng đối nghịch nhau.
Năm 1959, khi tình cờ nghe lối ca của nghệ sĩ Văn Hường tại một quán ca, Viễn Châu đã nảy ra ý tưởng táo bạo: viết bài vọng cổ hài cho Văn Hường thu đĩa. Sáng kiến này đã tạo nên một làn gió mới, gây tiếng vang lớn với thể loại vọng cổ hài hước, đưa Văn Hường trở thành một ca sĩ vọng cổ hài duyên dáng và độc đáo được khán giả yêu mến. Đến nay, nhiều người vẫn còn nhắc nhớ những bài đã làm nên tên tuổi ông như: “Tôi đi làm rể”, “Ba chàng rể quý”, “Tư Ếch đi Sài Gòn”, “Vợ tôi tôi sợ”, “Văn Hường nể vợ”, “Tâm sự Văn Hường”, “Vợ tôi nói tiếng Tây”,…
Từ năm 1964, ông mạnh dạn thực hiện một cuộc “giao duyên” chính thức giữa nhạc tân và nhạc cổ. Bản tân cổ giao duyên đầu tiên mang tên “Chàng là ai?” (nhạc của Nguyễn Hữu Thiết) do nữ nghệ sĩ Lệ Thủy trình bày. Ngay lập tức, thể loại này đạt được thành công vang dội, đĩa nhạc bán chạy như tôm tươi. Mặc dù ban đầu có nhiều ý kiến không đồng tình với sự “giao duyên” táo bạo này, nhưng sự đón nhận nồng nhiệt từ đông đảo thính giả đã khiến các hãng đĩa thay nhau ký hợp đồng mời soạn giả Viễn Châu cộng tác. Nhiều đoàn hát thời bấy giờ cũng nhanh chóng theo “mốt” tân cổ giao duyên, thêm vào các đoạn ca vọng cổ khi diễn viên trình bày.
Khi bản vọng cổ lên ngôi, các danh ca được người xem ưa thích nhờ làn hơi đẹp, mượt mà. Tuy nhiên, nội dung bản vọng cổ cũng là yếu tố vô cùng quan trọng, giúp người nghệ sĩ thăng hoa giọng ca của mình. Soạn giả Viễn Châu được mệnh danh là “người tạo danh cho các nghệ sĩ”, bởi qua nhiều sáng tác của ông, nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được đông đảo công chúng yêu mến. Có thể kể đến: Mỹ Châu với “Hòn vọng phu”, Tấn Tài với “Mùa xuân của mẹ”, Út Trà Ôn với “Tình anh bán chiếu”, Bạch Tuyết với “Hai sắc hoa Ti-gôn”, Thanh Nga với “Nguyệt Kiểu xuất gia” và “Hai lối mộng”,… Sau giải phóng, tác phẩm của ông vẫn được nhiều người ưa thích với các danh ca khó có người thay thế như: “Người mẹ miền Nam” (nghệ sĩ Thanh Nga), “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” (Thanh Kim Huệ), “Nửa mảnh khăn rằn” (Út Bạch Lan),…
Viễn Châu chính là người đề xướng ra bài vọng cổ Tân Cổ Giao Duyên, một thể loại đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi trên các báo chí và trang kịch trường trong hai thập niên 60, 70, nhưng cuối cùng đã định hình một thể loại đặc trưng của cải lương.
Dân ghiền cải lương thường phong cho Út Trà Ôn là “Vua Vọng Cổ”, Văn Hường là “Vua Vọng Cổ Hài”, Út Bạch Lan là “Nữ Hoàng Vọng Cổ”. Còn Viễn Châu, ông được tôn vinh là “Vua viết lời ca bài Vọng Cổ” – một danh xưng hoàn toàn xứng đáng.
Quả thật là vậy, hầu hết các nghệ sĩ thành danh, được phong ngôi vị vương giả trên sân khấu cải lương đều nhờ vào những bài vọng cổ của Viễn Châu. Út Trà Ôn, “Vua vọng cổ”, khởi đầu được khán giả yêu thích qua các bài “Tôn Tẫn giả điên”, “Thái Sư Văn Trọng giáng thập điều”, nhưng mãi về sau, người ta nhớ và nhắc đến ông qua các bài vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu”, “Ông Lão Chèo Đò”, “Sầu Vương Ý Nhạc” của Viễn Châu (và rất nhiều bài vọng cổ khác mà Út Trà Ôn đã ca, thu âm trên các hãng đĩa Asia, Hồng Hoa, Việt Hải, Continental…).
Út Bạch Lan, khi mới gia nhập đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn, chỉ làm thế nữ, quân hầu. Viễn Châu đã viết vọng cổ bổ sung vào tuồng “Tình Vương Hoa Thắm”, giới thiệu giọng ca đầy triển vọng của Út Bạch Lan. Sau đó, ông tiếp tục sáng tác nhiều bài vọng cổ và hướng dẫn cho Út Bạch Lan ca trên các hãng đĩa Asia, Hồng Hoa, Continental, Việt Nam, Việt Hải… Từ đó, Út Bạch Lan nổi danh là “Nữ Hoàng Vọng Cổ”.
Văn Hường cũng được Viễn Châu “khai phá” tài năng nhân buổi tiệc đàn ca tại giải trí trường Thị Nghè. Sau đó, Viễn Châu đã viết hơn 200 bài vọng cổ hài hước, tạo cơ hội cho Văn Hường chiếm ngôi vị độc tôn trong lĩnh vực ca hài. Hề Sa cũng nhờ vào những bài vọng cổ hài của Viễn Châu mà tên tuổi vang xa.
Các “khôi nguyên vọng cổ” từ thập niên 1960 trở về sau này như Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Thanh Tuấn đều đã chọn những bài vọng cổ của Viễn Châu khi đi thi và nhờ đó mà đoạt giải cao quý.
Các lò dạy cổ nhạc của những nhạc sư, nhạc sĩ lừng danh như Út Trong, Hai Khuê, Văn Vĩ, Bảy Quới, Tấn Nhì, Văn Giỏi, Vũy Chỗ, Ba Tu, Kim Anh, Hoàng Huệ, Văn Còn, Thanh Hải… đều sử dụng các bài vọng cổ do Viễn Châu sáng tác làm bài mẫu để dạy ca cho học trò.
Các nghệ sĩ tài danh của những thập niên 1960, 1970, 1980, ngoài những thành tích đạt được về ca và diễn trên sân khấu, còn nhờ vào việc thu thanh trên đĩa nhựa, được Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình loan tải đi khắp đến tận các làng mạc xa xôi. Khi ca vọng cổ thu đĩa, ba phần tư các bài được các nghệ sĩ đó thu thanh là sáng tác phẩm của Viễn Châu. Có thể nói, chính nhờ vào các bài vọng cổ đó mà nghệ sĩ phát triển thêm khả năng ca, luyến láy, đánh bóng, điểm tô thêm vùng hào quang danh vọng của mình trong lãnh vực ca vọng cổ và trên sân khấu.
Người ta nhắc nhở và khen ngợi Hữu Phước và Thành Được trong bài vọng cổ “Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha”. Hữu Phước được mệnh danh “giọng ca vàng” qua các bài vọng cổ của Viễn Châu như “Tần Quỳnh khóc bạn”, “Mục Liên tìm Mẹ”, “Nhật Ký Đời Tôi”, “Lá Bàng rơi”, “Đêm Tái Ngộ”… Thành Được và Út Bạch Lan được nhắc nhở mãi qua các bản “Hoa Lan Trắng”, “Thương Về Xứ Huế”, “Vợ Tôi Đi Lấy Chồng”… Hương Lan nổi danh với bài “Đời Nghệ Sĩ”… Mỹ Châu, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Kim Ngọc, Thanh Hải, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú, Trang Bích Liễu, Thanh Tuấn, Tuấn Thanh, Hoài Thanh, Đỗ Quyên… nói chung, những nghệ sĩ cải lương tài danh các thập niên 1960, 1970, 1980 đều có ca các bài vọng cổ của Viễn Châu sáng tác, thu đĩa cho các hãng đĩa lớn như Asia, Hồng Hoa, Việt Nam, Sơn Ca, Việt Hải, Continental, Capitol, Quê Hương, Sóng Nhạc…
Sau này, trong các chương trình “Vầng Trăng Cổ Nhạc”, “Sân Khấu vào Học Đường”, “Câu Lạc Bộ ca tài tử”, các nghệ sĩ thế hệ thứ ba như Kim Tử Long, Tài Linh, Vũ Linh, Ngọc Huyền, Trinh Trinh, Hữu Quốc, Quế Trân, Thanh Hằng, Thanh Ngân, Thanh Thanh Tâm, Phương Hồng Thủy, Thoại Miêu, Thoại Mỹ… đều có ca các bài vọng cổ của Viễn Châu sáng tác trước và sau 1975, chứng tỏ sức sống bền bỉ của di sản ông.
Soạn giả Viễn Châu: Người kể chuyện bằng tuồng và thơ
Năm 1950, Bảy Bá chính thức bước vào con đường viết tuồng với vở đầu tiên tựa là “Nát Cánh Hoa Rừng”, và cũng từ đó, nghệ danh soạn giả Viễn Châu ra đời. Ông chia sẻ rằng quê ông ở xã Đôn Châu, nhưng hiện nay thì xa quê, ở nơi viễn xứ, nên ông lấy chữ “Viễn” (chữ đầu của viễn xứ), cộng với chữ chót trong tên xã “Đôn Châu”, thành ra Viễn Châu để mãi mãi nhớ về quê hương nguồn cội của mình. Vở “Nát Cánh Hoa Rừng” được cảm tác từ chuyện đường rừng của Khái Hưng, và được nghệ sĩ tiền phong Năm Châu đứng ra làm đạo diễn. Nhờ vậy, dù là vở tuồng sáng tác đầu tay, soạn giả Viễn Châu đã gặt hái thành công rực rỡ. Kế tiếp, trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, các soạn phẩm của Viễn Châu như “Tấm Cám”, “Khoai Lang Dương Ngọc”, “Thạch Sanh Lý Thông”, “Lâm Sanh Xuân Nương” cũng đạt được doanh thu đáng kể cho đoàn trong những năm 1950, 1951, 1952. Kể về kỷ niệm thời kỳ này, soạn giả Viễn Châu xúc động nói: “Tôi may mắn được gia nhập vào một sân khấu nghiêm túc, kỷ cương chặt chẽ, có nhiều nghệ sĩ tài hoa; được học hỏi nhiều ở các bậc đàn anh như Năm Châu, Năm Nở, cho nên con đường đến với sân khấu cũng được suông sẻ, mau nổi tiếng.”
Ông tự nhận xét rằng khi mới bắt đầu viết tuồng, ông chưa nghĩ ra được cốt truyện nên thường dùng những câu chuyện cổ tích quen thuộc mà mọi người đều biết, giống như bên hát bội hay cải lương tuồng Tàu, người ta soạn tuồng dựa vào chuyện Tam Quốc, chuyện Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý chinh đông, Tiết Đinh San chinh tây… Với cốt truyện cổ tích đã phổ biến, người viết chỉ cần có văn chương tươi mát, trữ tình và pha thêm chút dí dỏm, hài hước là dễ được khán giả chấp nhận thưởng thức.
Cuối năm 1955, khi bộ tứ giám đốc Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng, Thúy Nga hợp lại lập nên đoàn cải lương Kim Thanh – Út Trà Ôn, soạn giả Viễn Châu được mời về làm soạn giả thường trực. Trên sân khấu Kim Thanh, Viễn Châu tiếp tục gặt hái thành công với các tuồng: “Tình Vương Hoa Thắm”, “Sau Bức Màn Nhung”, “Đời Cô Nga”, “Tiếng Đàn Trong Ngục Tối”, “Tình Mẫu Tử”, “Hàn Mạc Tử”…
Năm 1960, Viễn Châu về hợp tác với đoàn Thanh Minh, sau này là Thanh Minh Thanh Nga. Trong thời gian này, Viễn Châu cùng hợp soạn các tuồng “Đời Hai Mặt”, “Thầy Cai Tổng Bồi”, “Chén Cơm Đô Thành”. Theo yêu cầu của bà Bầu Thơ, tên tác giả không được ghi trên ba soạn phẩm này mà thay vào đó là “Bảo Quốc”, vừa là kỷ niệm về ông Bầu Nghĩa (người anh, người bạn của họ), vừa giúp quảng bá cho Bảo Quốc khi cháu vừa chập chững bước lên sân khấu. Sau đó, Viễn Châu còn hợp soạn với soạn giả Ngọc Huyền Lan (tức ký giả Nguyễn Ang Ca) các vở “Hoa Mộc Lan”, “Con Gái Hoa Mộc Lan”, “Thiên Thần Trên Thiết Mã”…
Khán giả ưa thích các sản phẩm của Viễn Châu không phải vì cốt truyện ly kỳ, tình tiết bất ngờ, mà vì câu chuyện tuồng tích quen thuộc được kể bằng lời văn trau chuốt, trữ tình và dễ hiểu, chạm đến cảm xúc người nghe.
Tâm hồn thi sĩ trong từng lời vọng cổ
Viễn Châu không chỉ là một nhạc sĩ tài ba mà còn là một thi sĩ với tâm hồn lãng mạn. Các bài vọng cổ của ông đều được viết theo khuôn khổ, có vần điệu, số chữ vừa vặn với chữ đờn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học ca đạt kết quả cao. Mỗi bài vọng cổ là sự kết hợp hài hòa giữa thơ và nhạc, mang đậm chất liệu văn học, mỗi câu hát, lời ca, mỗi nhân vật đều được ông gửi gắm chút tâm sự, chút tình cảm lãng mạn của một tâm hồn đa cảm, phong trần. Đôi khi là hình ảnh quê hương với ánh sáng lập lòe của đàn đom đóm, tiếng gà trưa lẫn tiếng chuông chùa công phu văng vẳng; đôi khi là hình ảnh những người nông phu bình dị mà ông bất ngờ bắt gặp trên đường đời, với nỗi bất hạnh, buồn khổ hay chuyện tình nên thơ mà dang dở đã để lại trong tâm hồn ông nhiều day dứt. Cũng có khi là một chút cảm khái “dư nước mắt khóc người đời xưa”. Tóm lại, những nhân vật của ông trong tuồng, trong vọng cổ đều chuyên chở dùm Viễn Châu nỗi niềm hoài niệm một thời thơ ấu đa tình, một chút lãng mạn của một người yêu đời, yêu thơ văn và âm nhạc.
Tuy không mang danh là thi sĩ như Kiên Giang, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, nhưng ông đã viết hàng ngàn câu thơ hay trong các bài ca vọng cổ của mình. Mỗi bài vọng cổ độc chiếc thường có ít nhất 8 câu thơ: 4 câu nói lối trước khi vào vọng cổ câu 1 và 4 câu nói lối khi ca câu 5, câu 6, hoặc thơ nằm trong lòng câu vọng cổ:
Trong bài vọng cổ “Hoa Đào Năm Ngoái”, 4 câu thơ nói lối trước khi vào vọng cổ câu 1 là:
Cánh chim về tổ chở mây xa
Liễu biếc sầu ai quạnh nắng tà
Người đẹp đâu rồi, cây nhớ bóng
Lan đình còn đọng dấu hài hoa.
Và 4 câu thơ khác, nói lối gát vào câu vọng cổ số 5:
Hương tóc mơ màng, hương cố nhân
Người xưa lưu lạc bước phong trần
Hồn thơ rũ rượi sầu ngăn cách
Lá chết rơi nhiều quyện gió đông.
Trong bài vọng cổ “Phàn Lê Huê – Tiết Đinh San”, 4 câu thơ tâm sự của Phàn Lê Huê gát vào câu vọng cổ 4:
Chăn gối hững hờ, chăn gối lẻ,
Phấn hương lợt lạt phấn hương tàn
Bao nhiêu thương nhớ bao nhiêu lệ
Mộng ước thôi rồi chịu vỡ tan.
Trong bài “Cô Hàng Cà Phê”, 4 câu thơ nói lối trước khi vào vọng cổ câu 1:
Gió thổi tơi bời xác lá bay
Mưa rơi từng giọt mái hiên ngoài
Em ngồi lẳng lặng bên khung cửa
Hướng nẻo chân trời để nhớ ai.
Và đây 4 câu thơ gát vào câu 5, cũng trong bài “Cô Hàng Cà Phê”:
Chiều xuống lâu rồi mưa vẫn tuôn
Ngoài kia phố thị hắc hiu buồn
Tôi nghe rười rượi hồn du tử
Không kẻ mong chờ cũng nhớ thương.
Thơ trong tuồng và trong các bài ca vọng cổ của Viễn Châu thì nhiều vô kể. Mặc dầu Viễn Châu biết rằng làm thơ không phải để trở thành thi sĩ, không phải để nổi tiếng với thơ, nhưng ông đã viết lời ca vọng cổ với một tâm hồn thi sĩ, một tâm hồn lãng mạn đã yêu thơ từ thuở thiếu thời:
Mưa lạnh run run gió dật dờ
Thành đô bỗng chốc hóa tiêu sơ
Đôi dây khoan nhặt cười ray rứt
Năm ngón cung thương khóc sững sờ
Tháng lụn năm tàn già héo hắt
Quê người xứ lạ trẻ bơ vơ
Chiều nay có kẻ nhiều tâm sự
Nước mắt hòa trong nhạc với thơ.
Với mỗi bài vọng cổ có ít nhất 8 câu thơ, tính chung 2.000 bài vọng cổ, Viễn Châu đã viết khoảng 16.000 câu thơ, tạo nên một kho tàng văn học đồ sộ. Mỗi bài vọng cổ được viết như một chuyện tình ngắn, một bài thơ tâm sự, mỗi bài đều có nhân vật khác nhau, tâm tình khác nhau, câu chuyện khác nhau. Như vậy, 2.000 bài vọng cổ là 2.000 câu chuyện ngắn khác nhau, thể hiện sự đa dạng và chiều sâu trong tư duy sáng tác của ông.

