Miền đất phương Nam, nơi văn hóa và con người hòa quyện cùng thiên nhiên khắc nghiệt, đã hình thành nên bản sắc độc đáo qua dòng chảy lịch sử. Trong bức tranh văn hóa ấy, hình tượng mèo và chuột, dẫu nhỏ bé, lại khắc sâu dấu ấn trong đời sống từ ẩm thực, tín ngưỡng đến kho tàng văn học dân gian, phản ánh sâu sắc triết lý sống và cách ứng xử của người dân nơi đây. Từ những câu chuyện cổ tích đến những món ăn dân dã, mối quan hệ giữa hai loài vật này trở thành biểu tượng sống động, đa chiều, giàu tính chiêm nghiệm.
Qua những di chỉ khai quật được, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục về sự hiện diện lâu đời của con người trên vùng đất Nam Bộ. Căn cứ vào các di tích cư trú và di cốt tại Óc Eo, Ba Thê, Núi Nổi, lịch sử cư dân nơi đây có thể lùi về khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước. Khi ấy, họ đã định cư trên vùng đất phèn mặn, sình lầy, ngập tràn cây dại và thú dữ. Những dấu ấn văn hóa đặc trưng vùng miền mà họ để lại vẫn còn sống động, đặc biệt tại khu vực tứ giác Long Xuyên và U Minh Thượng.
Tuy nhiên, một tiếc nuối lớn là nền văn minh rực rỡ ấy dường như chỉ bùng khởi trong vài trăm năm rồi chìm sâu vào lòng đất phù sa. Những hình ảnh hư ảo của Vương quốc Phù Nam lừng lẫy hay những ghi chép trong sử sách, bia ký cổ là tất cả những gì còn sót lại từ một thời vàng son đã qua.
Công cuộc mở đất và khẳng định bản sắc văn hóa phương Nam chỉ thực sự định hình rõ nét từ những cuộc đại di dân trong thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII. Ban đầu, quá trình di cư tự nhiên diễn ra lẻ tẻ, chưa đủ sức tạo nên một nền văn hóa đặc trưng. Mãi đến khi triều Nguyễn tổ chức những cuộc di dân quy mô lớn từ miền Trung vào, cùng với sự định cư của người Hoa sau sự kiện nhà Minh thất bại trước Mãn Thanh (do các tướng Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu dẫn đầu), và những làn sóng cư dân Khmer từ Campuchia tràn về theo sông Tiền, sông Hậu để lánh nạn chiến tranh từ Xiêm La, rồi cả cộng đồng người Chăm Hồi giáo chọn Châu Đốc làm nơi an cư. Song song đó, quá trình chuyển cư tại chỗ của các cộng đồng tộc người để khai khẩn đất đai, lập làng, tạo ruộng đã hoàn thiện bức tranh văn hóa Nam Bộ với bản sắc độc đáo và bền vững.
Để khám phá những đặc trưng của một vùng văn hóa, không thể không lấy tính cách con người làm yếu tố cốt lõi. Bởi lẽ, con người chính là chủ thể sáng tạo ra mọi ngôn ngữ và hành động, từ đó tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực như âm nhạc, sân khấu, văn học, kiến trúc, hội họa, lễ hội và phong tục tập quán.
Hầu hết các nhà văn hóa học và dân tộc học đều thống nhất về những nét tính cách chính yếu của người Nam Bộ. Đó là sự hào hiệp trong cuộc sống, đề cao bình đẳng trong giao tiếp và ít tính bảo thủ.
Khi mới đặt chân đến vùng đất này, Tây Nam Bộ còn là một miền hoang vu với rừng rậm bạt ngàn, hệ thống sông rạch chằng chịt, đầm lầy mênh mông, nơi muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh. Trên rừng đầy rẫy thú dữ, dưới nước ngoài tôm cá bạt ngàn còn có cá sấu, cá mập, rùa rắn… thách thức sự tồn tại của con người.
Người nông dân Tây Nam Bộ đã lao động một cách cần cù và dũng cảm phi thường. Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác để cải tạo những vùng đất rộng lớn nhưng phèn chua và ngập nước, đồng thời chống chọi với thú dữ trên rừng, phòng ngừa lam chướng dưới nước để trồng lúa, đánh bắt cá tôm. Ở những vùng đất giồng cao hơn, họ trồng cây ăn trái và hoa màu. Để tồn tại và phát triển, các gia đình nông dân trong xóm ấp đã liên kết chặt chẽ với nhau, cùng lao động công, cưu mang đùm bọc trong cái nghĩa bán anh em xa mua láng giềng gần, giúp đỡ nhau chén cơm manh áo, hột gạo củ khoai, tối lửa tắt đèn có nhau.
Buổi đầu lập nghiệp trên mảnh đất hoang sơ này là muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, vất vả. Mồ hôi và cả máu của họ đã đổ xuống, để đổi lấy thành quả là những đồng lúa vàng cò bay thẳng cánh, những vườn cây ăn trái mát mắt trĩu quả quanh năm. Theo đó, mối quan hệ giữa người với người từ bốn phương hội tụ trên mảnh đất này càng thêm ấm áp nghĩa tình. Tấm lòng người nông dân Tây Nam Bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không dung thứ kẻ gian ác, điêu ngoa. Họ coi trọng nhân – nghĩa – trí – dũng – liêm, lòng thương người bao la vô tận, nhưng lại cực kỳ ghét những kẻ gian tà, xu nịnh, hay những kẻ tham phú phụ bần. Tính cách khí khái trọng nghĩa khinh tài, giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha, sự cương trực ăn ngay, nói thẳng, tất cả đã góp phần tạo nên bản sắc riêng biệt trong đời sống của người dân miệt sông nước Cửu Long.
Dù cuộc sống vô cùng cơ cực, ngày ngày lao động trên đồng ruộng, nhưng đêm đêm nam nữ vẫn quây quần xay lúa, giã gạo, chài đôi, chài ba. Rồi những điệu lý, câu hò đối đáp dưới ánh trăng cất lên văng vẳng, mang theo hương quê mộc mạc mà nồng đượm tình nghĩa.
1. Mèo chuột – hai loài vật quen thuộc trong đời sống người Nam Bộ
Mèo nhà là loài động vật có vú nhỏ, thuộc nhóm ăn thịt. Các nhà khoa học tin rằng tổ tiên gần nhất của chúng trước khi được thuần hóa là mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica). Mèo nhà đã gắn bó với con người ít nhất 9.500 năm và hiện là thú cưng phổ biến nhất trên thế giới. Ở Việt Nam nói chung và đặc biệt ở miệt sông nước Cửu Long, mèo cũng là con vật thân thiết trong mọi gia đình.
Chuột là loài động vật có vú nhỏ thuộc bộ gặm nhấm. Họ chuột (tên khoa học: Mus) bao gồm 41 loài. Các nhà khoa học cho rằng chuột có thể đã xuất hiện trên trái đất từ thời cổ đại Hy – La. Kích thước chuột đa dạng tùy loài, từ 70-300 mm, bàn chân thường có vuốt sắc. Lông chuột mềm, phần lưng thường có màu xám.
Nếu mèo được coi là loài vật có ích, thì chuột lại là loài vật gây hại. Ngoài việc cắn phá lúa, gạo và mùa màng, chuột còn là vật trung gian truyền những căn bệnh dịch hạch khủng khiếp, đe dọa sức khỏe cộng đồng.
Mối quan hệ giữa chuột và mèo đã được dân gian lý giải qua một câu chuyện ngụ ngôn thú vị như sau:
Xưa kia, chuột vốn là một giống vật linh thiêng trên Thiên Đình, được Trời giao phó trọng trách giữ chìa khóa kho lúa. Thế nhưng, chuột không phải là loài đáng tin cậy. Được giao nắm giữ chìa khóa, chúng tự do mở kho, rủ nhau vào ăn thỏa sức, làm hao hụt biết bao lúa gạo. Khi Trời biết chuyện, ngài vô cùng giận dữ, không cho chuột ở lại thượng giới nữa mà đày chúng xuống hạ giới, giao cho nhiệm vụ coi giữ kho lúa của nhân gian. Nhưng “chứng nào tật ấy”, lũ chuột lại tiếp tục rủ nhau vào lẫm thóc của người, ăn uống rả rích. Đến nỗi người trần phải than thở rằng:
Chuột kia xưa ở nơi nào?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này?
Người dân lấy làm chua xót, liền cầu cứu vua Bếp. Vua Bếp lập tức bắt chuột đem lên trả Trời và tâu rằng:
– Chuột này vốn là chuột của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới?
Trời kể lại chuyện chuột ăn lúa của Trời nên bị đày xuống trần gian. Nghe xong, vua Bếp tâu:
– Xuống dưới ấy tính nó vẫn vậy, lúa của Trời nhiều, lúa của người ít. Của Trời nó ăn không hết chứ của người nó cứ ăn mãi, người sẽ chết đói mất. Vậy xin bây giờ cho nó lại lên trên Trời mà ở vậy.
Trời nghe tâu rồi phán rằng:
– Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lên đây nữa. Thôi bây giờ, ta có một con mèo, ta cho ngươi đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi. Còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì ngươi bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: Nghèo, nghèo, nghèo, thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, đem chuột và mèo xuống hạ giới, cứ theo lời dạy mà làm. Từ đó, khi nào mèo rình bắt được chuột, mèo cứ “gầm gừ, gầm gừ”, và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu: nghèo, nghèo, nghèo…
Nhưng lúc ấy, mèo nghĩ lại, lấy làm giận vua Bếp, bởi tại vua Bếp mà mèo mới phải xuống dương gian. Không làm gì được, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp phóng uế. Thành ngữ Mèo ngòi xó bếp ít nhiều còn muốn nói đến đặc tính “lười” của con vật này.
2. Mèo chuột trong văn hóa ẩm thực
Thịt mèo và thịt chuột cũng là những món ẩm thực khoái khẩu của người dân miệt đồng, một phần không thể thiếu trong bữa ăn và các buổi nhậu. Dù là con vật được cưng chiều, nhưng đôi khi mèo cũng được chế biến thành món nhắm độc đáo, mà các đệ tử Lưu Linh cao giọng gọi là “tiểu hổ”. Song, thực tế, cũng có không ít người không ưa thịt mèo.
2.1. Mèo và các món ăn từ thịt mèo

2.1.1. Cách làm thịt mèo
Để có được món thịt mèo thơm ngon, người ta phải có cách làm thịt đặc biệt. Đầu tiên, mèo được bắt, dùng cây đập vào đầu hoặc bỏ vào bao bố cột chặt dìm xuống nước cho chết ngạt. Sau đó, vớt lên, cắt cổ, bỏ máu. Tiếp theo, trụng nước sôi và cạo lông. Lưu ý, nước sôi phải pha thêm một ít nước lạnh để tránh bị sác, giúp lông cạo sạch hơn. Xối nước đã pha lên mình mèo, nhổ sạch rồi dùng dao bén cạo lại cho trắng tinh. Sau công đoạn này là thui mèo: mèo đã cạo trắng được bắt tréo trên hai cây dọc dừa rồi đốt rơm thui, đến khi da mèo cháy xạm vàng, lúc này mèo đã dậy mùi thơm, vừa nhìn đã ngon mắt. Đem mèo vừa thui xong xuống cạo rửa sạch, mổ bụng làm sạch lòng và chặt thịt thành miếng vừa ăn.
2.1.2. Các món ăn từ thịt mèo
- Mèo xào lăn: Thịt mèo được chặt thành từng miếng vừa ăn, ướp cùng cà ri, sả ớt, nước cốt dừa, tương, đậu phộng, nước mắm, muối, bột ngọt. Bắc nồi lên cho nóng, phi thơm tỏi với chút mỡ rồi cho thịt mèo đã ướp vào xào săn lại. Sả được cuộn tròn và một ít xắt nhuyễn, cùng với ớt xắt lát, tất cả cho vào xào cùng. Khi xào thịt, người ta thường dùng nước dừa tươi để nấu cho thịt ngọt hơn, màu cà ri sẽ làm thịt mèo có màu vàng ươm. Đến khi nước rút lại, thêm ít nước cốt dừa, nêm nếm gia vị vừa ăn rồi bắc xuống, dùng nóng.
- Mèo nướng: Thịt mèo đã làm được thái từng lát mỏng, ướp gia vị đường, tỏi, ngũ vị hương, bột ngọt, muối rồi nướng bằng vỉ trên lò than thật nóng. Thuở nguyên thủy, người ta nướng cả đùi mèo mà không cần ướp gia vị gì. Khi ăn, người ta cũng chẳng dùng dao để xắt mà chỉ xé bằng tay hoặc dùng răng miệng để xé. Thịt mèo nướng thường ăn kèm với lá mơ, chuối chát, củ riềng xắt lát, khế, ngò om, ngò gai. Ngoài ra, thịt mèo còn được ướp chao nướng, cách làm tương tự nhưng hương vị chao tạo nên nét đặc trưng khó quên.
- Mèo gói lá mướp: Thịt mèo băm nhuyễn, ướp gia vị rồi gói lại bằng lá mướp, dùng tăm dừa ghim thành từng miếng hình vuông hoặc tròn. Sau đó, bắc lên nồi nước ở dưới để hấp lấy hơi nóng làm thịt mèo trong lá mướp chín. Đến khi lá mướp chuyển thành màu xanh sẫm đen là thịt đã chín. Đem nồi xuống, gắp thịt ra chấm với nước mắm (pha bằng tương, sả, nước cốt dừa và đậu phộng). Có người thích ăn luôn cả lá gói, vừa như vị thuốc vừa đỡ ngán miệng.
2.2. Thịt chuột
Dân gian dành cho chuột câu ca đầy hình tượng:
Cần chi cá lóc cá rô
Thịt chuột thịt rắn nhậu vô hơn nhiều
Thịt chuột từ lâu đã trở thành món ăn “khoái khẩu” của người dân miền Tây Nam Bộ. Mùa khô là mùa bắt chuột, vừa để “cải thiện” bữa ăn, vừa để bảo vệ khoai, đậu, lúa, dừa, chống lại loài vật phá hoại mùa màng.
2.2.1. Cách bắt chuột trong dân gian
- Dậm cù bắt chuột: Chuột phá lúa rất dữ dội, nên khi mùa lúa chín, chuột ăn no béo, cũng là lúc thịt chúng ngon nhất. Khi gặt lúa, người ta thường chừa lại một đám nhỏ. Lũ chuột lập tức sẽ chạy dồn vào đó vì vừa kín đáo lại vừa có thức ăn. Họ sẽ dùng lưới bao quanh, chừa một đường thoát, đặt ở đó cái lọp (phương tiện bắt cá làm bằng tre, trúc), rồi vào “dậm cù”, chuột chạy tứ tung rồi chui vào lọp đã giăng sẵn.
- Dùng chó, đào hang, chĩa đâm chuột: Vào tháng Giêng, tháng Hai rảnh rang, từng nhóm người dắt chó, cầm cây, cầm chĩa, cùng nhau đi đào hang trên các bờ ruộng để bắt chuột. Việc này vừa tiêu diệt kẻ thù phá hoại mùa màng cho vụ mùa tới, vừa để “cải thiện” bữa ăn.
- Gài bẫy: Bẫy chuột có nhiều loại, nhưng cách này thường không bắt được nhiều, chỉ trên dưới chục con đủ ăn trong ngày. Gần đây, người dân còn nghĩ ra cách bắt chuột bằng xung điện, rất nguy hiểm bởi con người vướng phải cũng có thể biến thành nạn nhân. Nhiều tai nạn chết người thương tâm đã xảy ra vì loại hình bẫy chuột “hiện đại” này.
2.2.2. Cách làm thịt chuột
Đập chuột cho chết, dùng rơm rạ khô để thui (nhưng không quá lâu kẻo thịt chuột chín mất ngon và khó làm), hoặc trụng nước sôi rồi lột da, rửa sạch. Cắt bỏ tứ chi, mổ bỏ đồ lòng chỉ giữ lại gan. Cần lưu ý, ở phía cạnh đuôi chuột có một khúc già chứa phân chuột, cần tránh làm bể và phải lấy sạch, nếu không thịt chuột sẽ hôi, mất ngon.
2.2.3. Một số món ăn từ thịt chuột
- Chuột nướng rơm khô: Chuột cơm bắt được về không cần làm thịt. Chỉ cần nặn quanh mình chuột bằng sình non (đất ướt), cắm cọc tre tươi máng lũ chuột đã nặn đất vào, chất rơm xung quanh đốt nướng. Qua ba bốn lượt rơm đến khi thấy lớp đất khô nứt ra, chuột đã chín vàng. Lông và da chuột sẽ dính theo đất, người ăn chỉ việc gỡ lớp đất khô là có ngay món thịt chuột được chế biến nguyên chất, vừa ngọt vừa thơm ngon.
- Chuột xào củ hành: Củ hành tím thái mỏng, thịt chuột được băm nhỏ. Phi mỡ heo thơm lừng, xào thịt chuột cho săn vàng, rồi cho củ hành vào, không để củ hành quá chín. Nêm nếm tiêu, tỏi, ớt rồi nhắc xuống, ăn với cơm nóng.
- Chuột chiên sả: Chuột thường được chặt làm tư, ướp với ớt và sả băm nhuyễn cho thấm gia vị. Bắc chảo lên cho mỡ vào đun nóng, cho thịt chuột vào, chiên với lửa không quá lớn. Khi chuột vàng một bên thì trở lại chiên bên kia. Mỡ rút, thịt chuột vàng săn lại là có thể thưởng thức.
- Chuột nướng chao: Chuột thường được chặt làm tư, ướp với chao tán nhuyễn cho thấm. Đặt lên lò lửa than thật nóng, nướng chuột trên vỉ sắt. Thịt chuột vàng đều là ăn được. Thường người ta vừa nướng vừa ăn để tận hưởng hương vị nóng hổi.
- Chuột khìa nước dừa: Chuột thường để nguyên cả con, ướp với các gia vị như đường, nước mắm, bột ngọt, ngũ vị hương cho thấm. Bắc chảo lên phi tỏi với mỡ, cho chuột vào. Để hơi vàng rồi cho nước dừa tươi vào đun sôi đến khi nước cạn sền sệt là thịt chín, có thể ăn được. Món này ăn nóng với rau sống, chấm nước mắm chua cay sẽ rất tuyệt.
3. Mèo chuột trong văn hóa nhận thức

3.1. Mèo chuột trong thành ngữ, tục ngữ dân gian
Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, người bình dân đã dùng khá nhiều thành ngữ chứa đựng hình ảnh mèo, chuột. Phần lớn trong số đó đều mang hàm ý phê phán, chế giễu, đả kích những thói xấu, những tính cách thấp hèn của người đời. Chúng tôi xin điểm qua một số đơn vị ngôn ngữ tiêu biểu đó.
Đầu tiên là việc dùng hình ảnh mèo chuột để làm đối tượng so sánh với những biểu hiện, sắc thái, tâm trạng của con người trong cuộc sống thường nhật: Ướt như chuột lột (chỉ sự ướt sũng, ướt hết từ đầu đến chân); Lôi thôi như mèo sẩy chuột (diễn tả sự thẫn thờ, ngơ ngác của người đang tiếc rẻ, vì trót lầm lỡ một dịp may nào đó); Mèo nhỏ bắt chuột con (khuyên hãy biết liệu sức mình mà đảm đương công việc); Tiu nghỉu như mèo cắt tai (chỉ sự thất vọng, buồn ảo não, không muốn nói năng hay làm gì); Lù rù như chuột chù phải khói (kém tinh nhanh, rất chậm chạp và đờ đẫn); Ăn như mèo (là ăn từ tốn, từng miếng một, phụ nữ ăn nhỏ nhẹ được khen là có nết, nhưng đàn ông ăn như mèo thì bị chê bai, cho là tật xấu); Mèo khen mèo dài đuôi (tự đề cao, khen ngợi mình); Lèo nhèo như mèo vật đống rơm (nói dai, nói đi nói lại để nài xin).
Ở cấp độ mỉa mai, châm biếm, đả kích, giễu cợt thậm chí là khuyên răn hãy cảnh giác với những loại người “mèo chuột” ấy, ta gặp những cách nói bằng hình ảnh ẩn dụ: Ném chuột vỡ lu (hành động không mang tới kết quả đáng kể, trong khi lại gây ra tổn thất lớn hơn nhiều); Mèo già lại thua gan chuột nhắt (người có ưu thế lại bất lực, thất bại trước sự mạnh mẽ của kẻ bình thường); Bày đường chuột chạy (chỉ cách cho kẻ xấu tránh bị trừng phạt); Chuột chù đeo chuông (kẻ xấu xa lại tỏ ra là tốt, lên mặt dạy đời); Chuột đội vỏ trứng (che giấu bản chất xấu xa bằng cái vẻ bề ngoài tốt đẹp, hào nhoáng); Chuột gặm chân mèo (mang hai nét nghĩa: chỉ sự liều lĩnh, dại dột làm việc nguy hiểm; hoặc chỉ việc lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, phải thực hiện hành vi táo bạo, bất lợi); Chuột sa hũ nếp (may mắn, gặp được nơi sung sướng, đầy đủ một cách tình cờ ngẫu nhiên); Cháy nhà lòi mặt chuột (do xảy ra biến cố mà mới phơi bày, lộ tẩy sự thật hoặc thấy rõ chân tướng của người liên quan); Chuột chạy hở đuôi (không che giấu được toàn bộ hành vi, sự việc, bị lộ một phần bí mật); Đầu voi đuôi chuột (chủ trương, kế hoạch, việc làm lúc đầu có vẻ to tát, thuận lợi, nhưng cuối cùng bỏ dở dang hoặc không đạt được kết quả tương xứng); Nói dơi nói chuột (nói linh tinh, không có cơ sở, căn cứ gì hoặc không có nội dung cụ thể); Nửa dơi, nửa chuột (lai căng hoặc mập mờ, không rõ ràng); Voi đú, chó đú, chuột chù cũng nhảy cẫng (đua đòi, bắt chước không phải lối, trở nên lố bịch, kệch cỡm).
3.2. Mèo chuột trong ca dao dân ca
3.2.1. Trong dân ca nam bộ
Các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã khéo léo vận dụng và xử lý các hệ thống điệu thức dân gian năm cung hoặc bảy cung có thêm bớt bất thường trong thể loại lý. Điều này tạo thêm nhiều sắc thái về giọng điệu, làm phong phú thêm và mở ra nhiều khả năng kết hợp chặt chẽ giữa âm điệu và ngôn ngữ. Trong số hàng chục điệu lý, có hai bài Lý con chuột và Lý con mèo. Hai bài hát này lại có nhiều dị bản và đều đã xuất hiện trong liên hoan Dân ca Dân vũ do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức vừa qua, khẳng định sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng.
3.2.2. Mèo chuột qua những lời thơ ngụ ngôn và ứng xử
Hãy bắt đầu từ hai bài ca dao ngụ ngôn quen thuộc:
Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối về giỗ cha con mèo
Và:
Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khi mới trả lời cả họ mày thơm
Đầu tiên, phải khẳng định ngay rằng đây là hai câu ca mà hầu như bất cứ người Việt Nam nào trên dải đất hình chữ S đều biết, đều thuộc. Nó không phải là “đặc sản” riêng của người miền Tây Nam Bộ, càng khó có cơ sở để nói rằng nó xuất phát từ vùng đất Cửu Long. Song, trên vùng kênh rạch chằng chịt này, hai câu ca vừa nêu vẫn tồn tại trong giọng hò, câu hát của các bà, các chị mỗi khi kéo võng đưa em bé vào giấc ngủ. Điều đó thể hiện rõ sự ảnh hưởng và tiếp biến của một thể loại mà đặc trưng của nó là “sản phẩm tinh thần” của toàn dân.
Trở lại vấn đề nội dung, ở bài ca dao đầu, dường như người bình dân muốn lột mặt nạ bọn người gian ác ra mặt đạo đức giả. Mèo đời nào tốt đến mức phải đến hỏi thăm chuột? Tìm người để hãm hại mà giở giọng “thăm” thì quả là thâm hiểm! Song, người thấp cổ bé họng đâu dễ bị mắc lừa. Chuột đã chạy thoát, và còn nhắn lại để đáp lời thăm của mèo, rằng bận đi chợ, mua những thứ xoàng xĩnh nhất là mắm, muối về để lo giỗ cha kẻ không mời mà đến kia! Một cái tát mạnh, thẳng tay vào bộ mặt của kẻ giả nhân giả nghĩa! Thật đáng đời biết bao!
Ở bài sau, tác giả dân gian đã dùng nghệ thuật phản ngữ để ngụ ý châm biếm những hạng người không thấy cái xấu của mình mà hay “bới lông tìm vết” của kẻ khác! Những bài học ứng xử từ những câu ca mang hình tượng của hai con vật mèo – chuột quả là sắc sảo và lý thú.
Tiếp theo, hãy cùng xem người dân gian mượn hình ảnh của chuột để dựng lại chân dung của một người không ra gì:
Cô tưởng mình cô ái ố mĩ miều
Chồng con chả lấy để liều thân ru
Hai nách cô thơm như ổ chuột chù
Mắt thì dán nhấm, lại gù lưng tôm
Câu thơ vừa dùng cách tả thực, vừa dùng cách nói mỉa, nói lẩy, bởi chuột chù thì không thể thơm được. Họa chăng chỉ có Khỉ mới nói vậy, như bài ca dao mà chúng tôi vừa phân tích ở trên. Cụ thể hơn, chân dung người lười biếng, không ra gì được sánh với con mèo, bởi tính “chúa lười” của con vật hiền lành này:
Mèo nằm bồ lúa khoanh đuôi
Vợ anh đẹp lắm, đuổi ruồi không bay
Trong cuộc sống thường nhật, những triết lý nhân sinh được người lao động chân lấm tay bùn đúc kết lại, nhắc nhở người đời:
Mèo tha miếng thịt thì đòi
Kễnh tha con lợn mắt coi trừng trừng
“Kễnh” là tiếng gọi khác dành cho ông ba mươi. Mèo họ cọp, cọp thì nguy hiểm hơn, mạnh hơn, dữ hơn, thế nên cách ứng xử cũng phải khác với mèo chứ sao!
Sự đời, có làm thì mới có ăn, người cũng thế mà mèo cũng thế:
Con mèo con mẻo con meo
Muốn ăn thịt chuột thì leo xà nhà
Giữa mèo và chó cũng không ít lần “cơm không lành canh không ngọt”. Mượn sự thể đó, dân gian muốn nói đến những oan ức mà có kêu trời cũng khó thấu, vốn không ít lần đã diễn ra trong cuộc sống:
Con mèo làm bể nồi rang
Con chó chạy lại mà mang lấy đòn
Hơn thế, mèo và chó “gườm” nhau, dạy chuyện đời cho nhau. Dựa vào đặc điểm của hai loài vật nuôi cùng nhà, người ta cất lên lời thơ:
Con mèo trèo lên cây vông
Con chó đứng dưới ngó mong con mèo
Mèo rằng, sao chó chẳng theo?
Lên đây mèo sẽ dạy leo cho mà
Thân gói rơm không lo phận gói rơm, tác giả dân gian mỉa mai:
Chuột chê xó bếp chẳng ăn
Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre
Ai cũng khen mình hay, ai cũng cho rằng mình giỏi hơn người thì hãy nghe đây:
Mèo khen mèo dài đuôi
Chuột cậy mình nhỏ, dễ chui dễ luồn
3.2.3. Chuyện mèo chuột trong ca dao tình yêu
Tình yêu lứa đôi là một cung bậc đầy cảm xúc không thể thiếu trong đời sống tình cảm của con người. Và như một lẽ tất nhiên, hình ảnh hai con vật mèo chuột không thể nào vắng mặt trong tiếng nói tâm tình của người bình dân.
Dựa vào tính mềm mại, những kẻ râu mày gọi người mình yêu là “con mèo” vừa dễ thương, vừa trữ tình lãng mạn:
Ba má bày đặt cho anh
Áo bà ba may hai túi đựng dầu chanh để o mèo
Theo khẩu ngữ dân gian miệt đồng bằng, “o mèo” là đi “tán gái”, là làm quen, ngỏ lời chọc ghẹo đối tượng mà những anh chàng cao hứng để ý. Và rồi, cô gái cũng cảnh giác:
Võng ni lông anh giăng mùng chiến
Giấy kim tuyến anh gắn gối tay bèo
Anh ơi anh về dưới đó bỏ con mèo lại cho ai?
“O mèo”, cùng “mèo” hò hát đối đáp, đối tượng lại lấy con mèo ra để hỏi chơi, bắt bí người đối diện:
Thuyền quyên mười tám cái chèo
Ta xin đố bậu con mèo mấy lông
Lém lỉnh, nhanh trí, chàng trai đã đáp lại, lời đáp theo mô-típ quen thuộc khi gặp câu hỏi khó trong ca dao:
– Đố chi đố ngặt đố nghèo
Đố chi lại đố con mèo mấy lông?
Bậu về tát cạn biển đông
Thì ta sẽ đếm hết lông con mèo
Trong lúc hò hẹn, giờ tý canh ba – giờ của chú chuột mò đi ăn đêm, theo cách tính thời gian của người xưa – cũng được chàng trai tận dụng triệt để:
Con cua càng bò ngang đám bí
Nói với chị mày giờ tí qua qua
Chuyện “mèo chuột” đúng như nghĩa bóng của nó là chuyện nam nữ nhưng không chính đáng, không đường hoàng theo quan niệm gia giáo ngày trước. Xem đây, cảnh “vượt rào” của đôi lứa:
Chuột kêu rúc rích trong rương
Anh đi nhè nhẹ, đụng giường má hay
Ngày xưa, cái giường của người đàn bà nhà quê là loại giường chỏng đóng bằng tre già, lâu ngày trở nên xiêu lỏng, đụng vào đó nó kêu cót két, giống như tiếng chuột kêu chút chít. Có lẽ bà mẹ của cô gái kia đã một lần chợt thức giấc, nghe tiếng chiếc giường tre kêu rúc rích, cô gái đã nhanh trí trả lời rằng đấy là do “chuột ở trong rương”. Rút kinh nghiệm, cô gái đã nhắc khéo cho tình nhân kẻo lỡ làng chuyện ân ái!
Có khi, giữa lúc cao trào cũng chính chuột là nguyên nhân làm “đổ vỡ”. Ở một câu chuyện khác, người trong cuộc thốt lên:
Mồ cha con chuột lăng loàn
Vì mi ai mới không tàn giấc hoa
Tiếp mạch chuyện mèo chuột, thơ ca dân gian còn nhắc đến những cảnh tượng “nồi nào úp vung nấy”, cảnh tượng những mối tình vụng trộm “mèo mả gà đồng”:
Con chi rọt rẹt sau hè
Hay là rắn mối tới ve chuột chù?
Hoặc như:
Mèo đàng lại gặp chó hoang,
Anh đi ăn trộm gặp nàng nhổ môn
Cũng bởi tình “mèo chuột” kia mà nhiều lúc các anh chàng táo tợn đến mức dùng lời dung tục để “đòi hỏi” cho thỏa mãn dục vọng con người:
Gió nam non thổi lòn hang chuột
Đ… em rồi, đ… nữa được không em
Không thể chấp nhận chuyện “mèo chuột”, dân gian đã cảnh cáo những người xuân thì đầy khát khao giao cảm cả tâm hồn lẫn thể xác:
Lửa gần rơm không cháy cũng tròm trèm
Mèo không ăn vụng đi đêm làm gì
Hậu quả tất yếu của chuyện “mèo chuột” tất sẽ diễn ra, nguy hiểm khôn lường. Hình ảnh những người đã “trót nhỡ nhàng” hiện lên thật thảm hại:
Còn duyên anh cưới ba heo
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi
Sự so sánh giá trị của người con gái qua hai lễ vật dùng “đi cưới” đã thể hiện cách đánh giá của người bình dân. Còn duyên – cưới ba heo; hết duyên – cưới con mèo cụt đuôi, tình cảnh ở vế sau thật đau đớn và tủi nhục hết chỗ nói!
Cũng chuyện lễ cưới, ở một bài ca dao đề cập đến các lễ vật thách cưới. Theo ý chủ quan của người viết, đối với những người nghèo khổ trong xã hội ngày trước, thách cưới là một gánh nặng khiến biết bao đôi trẻ phải chia lìa. Vì thế, có thể coi đây như một lời phản kháng:
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo mời dân mời làng
Thân phận kẻ trái duyên lỡ nợ, con mèo cũng ở bên cạnh để cùng chủ nhân của nó trút cạn tâm tình:
Người ta năm bảy vợ theo
Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi!
Và khi nên gia thất, người con gái gặp cảnh chồng là người vô tích sự, kẻ không ra gì, cô ta “nhẹ nhàng” dùng hình tượng “mèo nằm xó bếp” để mỉa mai:
Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng tôi ngồi bếp sờ đuôi con mèo
Mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu xưa nay hiếm khi cơm lành canh ngọt. Vì thế, dân gian ví họ như mèo – chuột không hơn, không kém:
Mẹ chồng đối với nàng dâu
Như mèo với chuột có thương nhau bao giờ
4. Mèo chuột trong văn hóa tâm linh
Theo mê tín dân gian, người ta cho rằng tiếng chuột rúc chút chít sẽ mang đến điều chẳng hay. Nếu nhà bỗng nhiên có chuột rúc thì họa dữ sẽ ập tới:
Thứ nhất đom đóm vào nhà,
Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn
Họ cho rằng: Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu! Có lẽ quan niệm này bắt nguồn từ câu chuyện dân gian mà chúng tôi kể ở đầu bài viết, mèo thường hay kêu nghèo… nghèo… nghèo! Cũng vì thế, ngay cả hiện nay, khi đi tàu, xe, ai mang mèo theo thường bị các anh lơ xe, lái đò kiên quyết phản đối, buộc chủ nhân phải bỏ lại, nếu không họ sẽ từ chối không cho đi tiếp. Ngược lại, ai đem chó đi thì chả sao cả!
Người ta cũng tin rằng gặp mèo đen nhảy ngang đầu xe thì cũng xui xẻo như xẹp vỏ bánh xe chẳng hạn!
Mèo để tháng ba cha ăn con: Đây là một hiện tượng lạ lùng có thật mà dân gian đã quan sát và ghi nhận từ lâu, song chưa có lời giải thích thỏa đáng. Không hiểu sao, mèo cái có chửa và đẻ con đúng vào tháng ba thì mèo cha sẽ biết, và nó tìm mọi cách cắn chết đàn con của nó, ăn thịt, chỉ chừa lại những cái đầu tròn vo, gớm ghiếc! Nếu ở nhà có mèo đẻ nhằm tháng ba, người ta phải ra sức canh giữ, đánh đuổi mèo đực, tốn nhiều công sức, song tỷ lệ để bầy mèo con an toàn và lớn được cũng không cao. Nếu mèo cái đẻ nhằm các tháng khác trong năm thì không có hiện tượng này.
Lấy được nhau mèo sẽ gặp may mắn! Mèo vốn nhút nhát, kín đáo, nên khi đẻ nó ít khi để chủ nhà biết. Đẻ xong, nó ăn sạch cả nhau. Vì vậy, ai thấy được và lấy được nhau mèo sẽ gặp may, người ta tin như vậy!
Mèo nhảy qua người chết, người chết bật dậy. Điều này khoa học đã lý giải do luồng điện sinh học sinh ra, nên khi mèo nhảy qua gần tử thi, tử thi sẽ bật dậy. Chính vì thế, trong nhà có người vừa qua đời, việc đầu tiên là người ta tìm bắt nhốt bầy mèo lại!
Mèo già hóa cáo: Nghĩa hàm ẩn muốn chỉ những người già sống lâu nên đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Cũng còn nghĩa là người mới đầu làm việc gì thì rụt rè nhút nhát, nhưng ở lâu năm thì trở nên tinh ma ranh mãnh. Trong dân gian, người ta tin rằng khi mèo nhà nuôi lâu năm nó sẽ bỏ đi vào rừng. Bản năng của loài thú hoang trỗi dậy, mèo đã hóa cáo!
Kỵ ăn thịt mèo: Dù mèo có mặt trong các món ẩm thực của người bình dân, song không phải ai cũng ưa. Có nhiều người “kỵ” không ăn. Họ cho rằng mèo là thú cưng, không nỡ ăn thịt, cũng có người cho rằng ăn thịt mèo sẽ gặp xui xẻo. Không biết từ lúc nào, người ta truyền câu chuyện khá ly kỳ rằng: có con mèo già, rất khôn. Khi con của chủ nhà ngủ, nó nhảy lên, dùng “tay” đưa võng cho em bé. Ngày đó, chủ nhà có khách đến chơi, hết đồ nhắm, bèn đè mèo ra làm thịt nhậu. Nhậu xong, người thì bệnh, người thì gặp nạn… Tác giả dân gian hư cấu những tình tiết ly kỳ như vậy nhằm mục đích khuyên “bợm nhậu” đừng nên ăn thịt con vật hiền lành, nhiều tình cảm chăng?
Cuối cùng là những câu nhận định dành cho người sinh năm con chuột, cầm tinh tuổi Tý. Dân gian hài hước rằng:
Tuổi Tý là con chuột nhà
Bắt vịt bắt gà, soi ngách đào hang
Và dựa vào đặc tính “ăn vụng như mèo” mà người bình dân “đoán” tính cách của người tuổi Mão:
Tuổi Mẹo là con mèo ngao
Hay quấu hay quào ăn vụng thành tinh
Tất nhiên đó chỉ là cách nói ví von, đùa cợt mà thôi!
5. Kết luận
Mèo và chuột là những con vật gắn liền mật thiết với đời sống của người bình dân, đặc biệt là ở vùng đất phương Nam. Chuột, với bản tính phá hoại mùa màng, cắn phá ruộng lúa – thành quả lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt của người nông dân – đã trở thành kẻ thù không đội trời chung. Ngược lại, mèo vừa là người bạn đồng hành giúp nông dân diệt trừ chuột, vừa là vật nuôi được yêu quý, chiều chuộng trong nhà.
Không chỉ vậy, mèo và đặc biệt là chuột còn trở thành những món ăn hấp dẫn của người miệt đồng. Sau một ngày lao động vất vả, miếng thịt chuột không chỉ làm cho bữa cơm thêm ngon miệng mà còn là miếng mồi hấp dẫn bên chung rượu đế nặng tình làng nghĩa xóm. Việc chế biến thịt của chúng cũng đã trở thành một nét văn hóa ẩm thực độc đáo, thể hiện sự ứng biến linh hoạt của con người với môi trường sống.
Tính nết của cả mèo và chuột, cũng như mối quan hệ “mèo chuột”, đã trở thành đề tài phong phú cho lời ăn tiếng nói dân gian. Qua những thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa hình ảnh hai loài vật này, chúng ta thấy được đời sống tâm hồn hết sức phong phú và đa dạng của người bình dân. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa nhận thức đặc sắc của họ.
Chúng tôi đã thống kê và nhận thấy rằng có đến 92,8% thành ngữ, tục ngữ có hình tượng mèo đều mang sắc thái âm tính. Đây là tỷ lệ cao nhất trong các thành ngữ nói về 12 con giáp, như bảng dưới đây cho thấy:
| Hình tượng con vật | Tổng số thành ngữ thống kê | Sắc thái biểu cảm | ||
| Âm tính | Trung hoà | Dương tính | ||
| Chuột (Tí) | 36 | 21= 58.3% | 7=19.4% | 8=22.2% |
| Trâu (Sửu) | 44 | 7=15.9% | 11=25% | 26=59% |
| Dần (Cọp, Hùm, …) | 34 | 18=52.9% | 6=17.6% | 10=29.4% |
| Mèo (Mão) | 42 | 39=92.8% | 2=4.8% | 1=2.3% |
| Rồng (Thìn) | 35 | 2=5.7% | 2=5.7% | 31=88.6% |
| Rắn (Tị) | 41 | 23=56% | 6=14.6% | 12=29.2% |
| Ngựa (Ngọ) | 42 | 6=14.3% | 7=16.7% | 29=69% |
| Dê (Mùi) | 41 | 6=14.6% | 6=14.6% | 29=70.7% |
| Khỉ (Thân) | 37 | 20=54% | 5=13.5% | 12=32.4% |
| Gà (Dậu) | 35 | 11=31.4% | 9=25.7% | 15=42.8% |
| Chó (Tuất) | 38 | 7=18.4% | 8=21% | 23=60.5% |
| Heo (Hợi) | 38 | 6=15.7% | 6=15.7% | 26=68.4% |
| Tổng | 463 | 166=35.8% | 75=16.1% | 222=47.9% |
(Theo Phần Thành ngữ điển tích trong Việt Nam tự điển, Lê Văn Đức soạn, Khai Trí in tại Sài Gòn, 1970; Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (2 quyển), Trịnh Vân Thanh, xuất bản tại Sài Gòn 1965; Từ điển thành ngữ – tục ngữ, Vũ Dung – Vũ Thúy Anh – Vũ Anh Hào, NXB Văn hóa Thông tin, 2000; Thành ngữ Tiếng Việt, Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Nxb Khoa học xã hội, 1976)
Vì sao một con vật hiền lành như mèo lại bị dân gian dùng với những hàm ẩn mang ý nghĩa tiêu cực như vậy? Xem ra, đây là một vấn đề thú vị, và việc lý giải nó không hề đơn giản. Do khuôn khổ bài viết có hạn, chúng tôi chỉ đặt ra vấn đề như vậy và sẽ giải quyết nó trong một dịp khác.

