Nằm giữa hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang, làng nghề mộc xã Long Giang là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời. Từ việc tận dụng gỗ vụn tạo nên đồ thờ tự cho người nghèo, các nghệ nhân nơi đây đã viết nên câu chuyện đầy nghị lực về sự sinh tồn. Trải qua gần một thế kỷ, làng nghề vẫn âm thầm giữ lửa dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Dòng chảy thời gian bên dải cù lao Ông Chưởng
Giữa không gian thanh bình của xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, tiếng đục đẽo và mùi gỗ thơm nồng đã trở thành một phần hơi thở của mảnh đất này suốt nhiều thập kỷ qua. Làng nghề mộc gia dụng nơi đây vốn có nguồn gốc từ những năm 1930 – 1940 của thế kỷ trước, khi những người thợ đầu tiên quyết định tách ra từ làng mộc Chợ Thủ danh tiếng để tìm hướng đi riêng cho mình. Ông Nguyễn Văn Doãn, hay còn gọi là Ba Doãn, một trong những bậc cao niên gắn bó với nghề từ thuở thiếu thời, bồi hồi nhớ lại thuở cha ông mình tận dụng từng mẩu gỗ thừa để đóng thành những bộ lư hương, chân đèn hay bao lam phục vụ đời sống tâm linh của bà con lao động nghèo. Từ những mảnh gỗ vụn tưởng chừng bỏ đi, qua bàn tay tài hoa của người thợ Long Giang, chúng đã trở thành những vật phẩm thờ tự trang nghiêm, góp phần làm ấm cúng không gian tâm linh trong mỗi gia đình miền Tây sông nước.
Đỉnh cao của kỹ nghệ chạm khắc thủ công
Dù xuất phát điểm từ việc gia công các chi tiết nhỏ cho các xưởng lớn, nhưng trình độ tay nghề của các nghệ nhân vùng Long Giang không hề kém cạnh bất kỳ trung tâm điêu khắc danh tiếng nào. Sự tinh tế trong từng nét cắt lộng hay sự tỉ mỉ trong khâu chạm trổ đã tạo nên thương hiệu riêng cho vùng đất cù lao này. Các nghệ nhân tại đây làm chủ bốn kỹ thuật cốt lõi: Chạm trổ, chạm lộng, chạm nổi và chạm âm. Nếu chạm trổ đòi hỏi việc tạo hình không gian ba chiều sống động cho các linh vật thì chạm lộng lại tạo nên những dãy hoa văn liên hoàn, tinh xảo trên các bức bao lam hay thành vọng. Trong khi đó, chạm nổi mang lại vẻ đẹp sinh động cho các bức phù điêu, còn chạm âm lại thể hiện sự giản đơn nhưng uy nghiêm trên những tấm liễn hay câu đối bằng chữ Nho. Những hình tượng quen thuộc như mai, lan, cúc, trúc hay long, lân, quy, phụng qua nét đục khéo léo đã trở nên có hồn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Nỗi niềm trăn trở của những phận thợ nghèo
Theo sự thay đổi của thời đại, làng nghề đã dần chuyển mình sang sản xuất đồ mộc gia dụng để đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội. Tuy nhiên, một đặc điểm riêng biệt của Long Giang chính là việc chuyên tâm vào phân khúc sản phẩm giá rẻ. Những chiếc tủ chén, tủ quần áo hay giường ngủ tại đây có giá thành cực kỳ bình dân, chỉ dao động từ vài trăm nghìn đồng, giúp những gia đình có thu nhập thấp vẫn có thể trang bị những vật dụng thiết yếu cho tổ ấm. Thế nhưng, đằng sau những mức giá khiêm tốn ấy là nỗi lo toan cơm áo gạo tiền của những người thợ mộc chân phương. Họ phải đi thu mua gỗ vụn, gỗ mép từ các trại cưa lớn về để ghép nối tỉ mỉ thành sản phẩm hoàn chỉnh. Ông Dương Minh Dũng, một thợ mộc lâu năm, tâm sự rằng đời thợ mộc ở đây vẫn còn nhiều gian truân, mỗi ngày miệt mài khoan đục cũng chỉ kiếm đủ tiền trang trải bữa cơm gia đình. Những ngôi nhà đơn sơ ven kênh Ông Chưởng vẫn ngày đêm vang vọng tiếng máy, nhưng đời sống thợ mộc vẫn còn đó những khoảng lặng đầy ưu tư khi thu nhập chưa tương xứng với công sức bỏ ra.
Hy vọng phục hưng từ những mô hình liên kết
Dù đã được chính thức công nhận làng nghề từ năm 2008, nhưng Long Giang vẫn đang phải đối mặt với bài toán nan giải về vốn đầu tư và quy trình tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống giao thông với những cây cầu tải trọng thấp khiến việc vận chuyển hàng hóa bằng xe tải gặp nhiều khó khăn, trong khi vận tải đường thủy lại làm tăng chi phí và thời gian. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các mặt hàng công nghiệp hiện đại khiến các sản phẩm làm từ gỗ tạm dần mất đi vị thế trên thị trường. Trước thực trạng đó, chính quyền tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới đang nỗ lực thúc đẩy việc thành lập các tổ liên kết sản xuất và hợp tác xã. Đây được xem là hướng đi quan trọng để gắn kết các hộ sản xuất nhỏ lẻ, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và xây dựng bộ máy vận hành chuyên nghiệp hơn. Chỉ khi có sự gắn kết chặt chẽ và những chính sách hỗ trợ thiết thực, ngọn lửa của làng nghề mộc trăm tuổi bên dòng sông Hậu mới có thể tiếp tục rực cháy và phát triển bền vững.


