Menu Đóng

Người ẩn sĩ hòn Cổ Tron

Ông Tư Thông, một lão nhân ẩn sĩ tóc bạc đang ngồi trên tảng đá bên bờ biển hoang sơ, nhìn ra biển cả mênh mông.

Giữa trùng khơi vịnh Xiêm La mênh mông, hòn Cổ Tron hoang sơ là chốn dung thân bao đời của ông Tư Thông, một lão nhân hòa mình vào nhịp đập vĩnh cửu của biển cả. Mái tóc pha sương khi thì buông dài ngang lưng, khi lại bới gọn gàng sau gáy bằng một cọng gai kim quít, như dấu ấn của thời gian và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên. Lối sống của ông là bản hòa ca của tự do và khoáng đạt, nơi mọi vướng bận trần thế đều tan biến vào gió biển.

Thường nhật, ông Tư Thông không màng đến y phục, để tấm lưng trần tắm trong nắng, bên những gốc săn đá cổ thụ khẳng khiu, chứng kiến bao mùa gió biển thổi tạt lá cành. Khi hơi nóng bao trùm, những khe suối trong vắt lại mời gọi, ông ung dung uống nước, trầm mình giữa dòng mát lành, thỉnh thoảng vô tình đánh thức giấc mơ của đàn bướm trắng, khiến chúng chao lượn quanh những nhánh mai hoằng lơ thơ như chạm vào mặt nước. Những ngày rằm hay mười bốn âm lịch, niềm vui giản dị lại đến. Ông ra sau chòi, đào lên củ khoai môn khổng lồ, luộc chín rồi ngồi trên vồ cẩm thạch chậm rãi thưởng thức bữa chiều. Từng miếng khoai được ông bóc tách, thả xuống nước, nơi đàn cá nhỏ xúm xít lại, mỗi con khoe một vẻ đẹp riêng biệt. Sâu thẳm dưới đáy biển, các loài sò, ốc, nhúm chậm chạp bò trên nền đá tím gân vàng hay đá vàng gân trắng, há miệng le lưỡi như đón đợi. Hoàng hôn buông xuống, cảnh vật dưới nước bỗng bừng sáng rực rỡ, bóng mây phản chiếu lung linh như dệt gấm. Khi màn đêm phủ xuống, trăng vằng vặc mọc lên, thế giới thủy cung cũng rộn ràng chẳng kém chốn trần gian. Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá biển, và muôn vàn vì sao trên dải Ngân hà sa xuống, đậu lấm tấm khắp những nhánh san hô trắng bạc, tạo nên một bức tranh huyền ảo.

Bóng hình cô độc giữa trùng khơi

Ở hòn Cổ Tron, giữa muôn trùng sóng vỗ của vịnh Xiêm La, ông Tư Thông dường như đã quên bẵng sự tồn tại của loài người, và ngược lại, thế gian cũng gần như chẳng còn nhớ đến một đồng loại đang ngày ngày sống trọn kiếp mình nơi mỏm đá chênh vênh ấy. Điều này, xét cho cùng, chẳng thể trách ai, bởi lẽ đó là số phận của “hải giác thiên nhai” – nơi biển tận trời cùng. Chẳng lẽ ông lại phải vượt bốn mươi cây số đường biển hiểm trở để đến công sở Lại Sơn, bên Hòn Rái mà trình diện? Ngay cả quan chủ quận Châu thành Rạch Giá cũng phải ngán ngại khi đi kinh lý đến làng Lại Sơn, bởi từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhất cũng năm chục cây số đường hải đạo mênh mông, sóng cồn dữ dội. Mấy chiếc “ca nốt” oai hùng quen thuộc trong sông rạch, khi ra đến biển khơi, chẳng khác nào vỏ trứng vịt chơi vơi giữa trùng dương. Nhà nước thuộc địa bấy giờ nào có chú ý đến việc cung cấp tàu đồng, tàu sắt hiện đại để quan chủ quận dễ bề cai trị dân? Lẽ nào ông quận lại cưỡi ghe bầu hàng trăm cây số đường biển, mà ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng tắp? Ghe chỉ chạy theo đường gãy, và ngoài biển khơi, đường gãy là con đường gần nhất giữa hai điểm cách nhau, nhưng thực tế khoảng cách gần trăm cây số ấy lại kéo dài gấp ba, gấp bốn lần, thử thách mọi ý chí và phương tiện đi lại.

Mở cửa thế giới: Khi chiến tranh gõ cửa đảo hoang

Vào một năm, một tháng, một ngày không thể nhớ rõ, ông Tư Thông bỗng cảm thấy một nỗi băn khoăn, rạo rực lạ thường không chỉ trong lòng mà còn từ thế giới bên ngoài. Từng đàn chim đen kịt như bầy quạ, sà xuống bay lượn quanh hòn Cổ Tron, cất lên những tiếng rú, tiếng rít thê lương, lắm lúc tưởng chừng sắp đáp xuống nhưng rồi lại đột ngột đảo ngược, bay thẳng một mạch khuất vào làn mây khói. “Bữa nay họ làm cái gì vậy cà?” Ông Tư Thông hối hả trèo lên chót đá mà ngóng nhìn khắp bốn phương. Hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc đều không có gì khác lạ. Duy chỉ có hướng Đông: kìa, sừng sững dưới ánh nắng mai là năm ba hòn đảo mới nhô lên, những hòn đảo hoàn toàn xa lạ. Ông trố mắt liên tưởng đến phép “duồi non lấp biển” vô cùng nhiệm mầu của người Thợ Trời khéo léo. Không thể lầm lẫn được! Từ trước đến nay, ông vẫn luôn am hiểu tường tận vị trí của mọi hòn đảo nhỏ án ngữ xung quanh đây. Từ hòn đảo mới nổi ấy, một đốm trắng người hiện ra, rồi một chiếc “ca nốt”, sau đó là hai chiếc, ba chiếc đang rẽ sóng lao vun vút về phía hòn đảo ông đang ở. “Từ năm bảy năm nay, mình chưa mất lòng một con sâu, một con kiến, không lẽ bây giờ lại có kẻ đến báo oán mình? Oán nào đã gây ra mà báo?” Nghĩ vậy, ông quay xuống chân hòn sát mé biển, kiên nhẫn chờ đợi. Chập sau, mấy chiếc “ca nốt” cập gần bờ; những người trên thuyền đưa tay ngoắc ông. Một người Việt Nam cất tiếng hỏi: “Ông già! Lại đây quan lớn hỏi.” Ông Tư Thông nhìn năm sáu người mặc võ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn, những người mặc võ phục nói ríu rít, ông đoán đó là “tiếng Tây”. “Ông già! Đây là Bu Lô Đa Ma?” Ông đáp: “Dạ không biết. Nó là hòn Cổ Tron. Chung quanh đây là mười hòn nhỏ khác. Không có nơi nào kêu là hòn Đa Ma…” “Vậy thì nó là hòn Nam Du. Trong bản đồ ghi rõ đường hoàng. Ông nói kỳ quá!” Ông Tư Thông lắc đầu: “Dạ, lời thật khai ngay. Tôi không biết. Xung quanh đây là hòn Mẫu, hòn Dài, hòn Cổ Sơn, hòn Móng Tay.” Chập sau, thầy thông ngôn mới đồng ý: “Đúng vậy, Bu Lô Đa Ma hoặc hòn Nam Du là tên theo sách chữ nho, theo nhà binh. Hòn Cổ Tron là tên tục của nó. Nè ông lão! Quan lớn ra lịnh như vầy…” “Bẩm thầy, quan lớn là người của nước nào, tôi chưa rành.” “Ông giỡn sao chớ? Hay là ông ngủ mê? Cỡ này, nhà nước thuộc địa Tây đánh với nước Xiêm.” “Bẩm thầy, đánh ở đâu? Tôi chưa được am tường.” “Đánh tại nước Cao Miên. Đánh luôn tại Bu Lô Đa Ma tức là cái hòn Cổ Tron này.” Ông Tư Thông cau mày: “Mô Phật. Cầu xin Phật Trời…” Thầy thông ngôn đắc ý: “Không sao đâu! Hễ làm con dân thì phải gánh vác nghĩa vụ. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy tới đây do thám không?” “Dạ, không thấy.” “Hòn này bao nhiêu dân đinh?” “Bẩm thầy, có một mình tôi thôi. Còn mấy hòn gần đây, tôi không rành. Chắc là năm bảy người, toàn dân “An Nam” mình.” “Được, thôi bây giờ quan lớn muốn ông kiếm dùm trái cây, nước ngọt. Rồi quan lớn cho chút ít tiền… Thời buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm.” Có lẽ sợ ông Tư Thông trốn luôn trên chót hòn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông, sẵn sàng giúp ông quảy mớ chuối, mớ mít. Trước lạ sau quen, ông Tư Thông hỏi dò sơ qua về tình hình trong bờ: “Trận giặc này không biết dân “An Nam” mình hao nhiều không thầy?” “Hỏi làm chi vậy? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hốc Môn, miệt Long Hưng… nhộn dữ lắm. Tây không muốn nói chuyện đó.” Một mối buồn len vào tâm não ông Tư Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chim có tổ. Cá có hang. Đôi mắt già của ông Tư Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà… Ông hổ thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải. Thầy thông ngôn nói rồi khiến ông giật mình: “Quan lớn đi về. Ông muốn xin điều gì, vật gì không? Ổng tử tế lắm.” Ông Tư Thông chắp hai tay ra vẻ cung kính: “Tôi muốn vô trong đất liền, miệt Rạch Giá hay Cà Mau gì cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chớ thời buổi chiến chinh này… Tôi không có giấy thuế thân, hồi nào tới giờ.” Vị quan hải quân gật đầu. Thầy thông ngôn viết lia lịa rồi vị quan ký tên. Ông Tư Thông cầm miếng giấy thông hành hộ mạng nọ, vô cùng mừng rỡ: “Chúc quan lớn đi bình yên. Mà… Quan lớn chạy “ca nô” về đâu?” Thầy thông ngôn nói: “Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu binh… của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao? Họ sơn tàu lại cho giống cái hòn giữa biển. Hồi sáng tụi tôi bỏ ống dòm thấy rõ ràng ông đứng trên chót hòn này. Nhờ vậy mà ông khỏi bị bắn. Ban sơ, quan lớn tưởng đâu hòn này là chiếc tàu binh của kẻ nghịch. Ông hiểu chớ?”

Hành trình vào đất liền: Nỗi đoạn trường của kẻ tự do

Chưa kịp đặt chân tới bến chợ Rạch Giá, ông Tư Thông đã cảm thấy cuộc đời mình như bị đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do bỗng chốc rơi vào cảnh mất tự do. Ông vốn trung thành với đất nước, nhưng tại sao đất nước lại đối xử với ông một cách bạc bẽo, ghẻ lạnh đến vậy? Rời hòn Cổ Tron, ông quá giang tàu buôn Hải Nam một mạch tới hòn Tre, rồi nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Nào ngờ, tàu của sở “đoan” chặn lại xét hỏi. Miếng giấy thông hành ông đang giữ bị nghi ngờ là giả mạo, bởi không có đóng mộc, và bản thân ông cũng không có giấy “lão” để chứng tỏ tên họ mình đúng như trong giấy phép. Tàu “đoan” liền chở ông về giao cho ông cò Tây. Sau hai ngày bị giam giữ, ông cò chuyển vụ việc qua dinh quận. May mắn thay, ông quận vốn là người mộ đạo Phật, nên đã cho phép ông Tư Thông được tự do đi dạo chợ. Ông Tư Thông bày tỏ lý do: “Dầu muốn trở về hòn Cổ Tron, không dễ gì kiếm được ghe xuống mà quá giang. Gió thổi Nồm rồi. Phải chờ mùa Bấc…” Dạo chợ mấy buổi, ông Tư Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc ít ỏi (do ông chủ quận cho), ông không biết nên mua sắm, ăn uống những gì. Cuối cùng, ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi góc chợ. Phần còn dư, ông ghé tiệm hàng xén mua nhang đèn cầy để về cúng bà Chúa Hòn, mặc dù ngoài hòn chẳng có chùa miễu gì cả. Ông cũng thích chí sực nhớ mua thêm vài cây kim, nửa cân đường cát trắng. Nhiều lần quan chủ quận viết thư qua bót ông cò hỏi thăm về vụ việc của ông Tư Thông, nhưng không nhận được bất kỳ giải quyết dứt khoát nào. Chẳng lẽ cứ giam giữ ông Tư Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnh Xiêm La, ông quận nảy sinh một ý kiến: “Hòn Cổ Tron tuy thuộc quận Châu Thành nhưng nằm gần phía làng Đông Hưng, quận An Biên. Ngày năm tây tháng tới, ta đón thầy xã trưởng Đông Hưng mà gởi ông đạo này.” Rừng của làng Đông Hưng âm u quá, khó mà nhìn ra xa quá vài công đất để tìm lại chân trời; chạng vạng là khói bếp đã un lên, không như hồi ở ngoài hòn Cổ Tron, nơi ông ngủ trần không cần mùng mền. Thầy xã trưởng giao trách nhiệm gìn giữ ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay. Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi cảm thông nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế, còn ông Tư Thông thì đi cắm câu, kiếm “mồi” về nhậu.

Khi tĩnh lặng tìm về: Di sản của người đảo cũ

“Ở đây vui quá phải không?” Ông Tư Thông gật gù: “Không được vui lắm. Coi bộ bà con mình nghèo hơn ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Mình mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời… Chắc là tại giặc Xiêm.” Hương tuần Hay trả lời: “Giặc đâu không thấy. Người ta đánh mà mình chịu cực mới đau thương cho chớ!” “Buồn quá, chú hương tuần à.” “Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen, yên tịnh.” Ông Tư Thông thích chí: “Thì ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi, tứ bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao? Vì chung quanh có hàng chục hòn khác án ngữ. Tôi là người chạy giặc, vô trong đất liền này thăm bà con… Nhưng mà cũng yên tịnh. Nhờ bà con thương tình.” Ngày tháng trôi qua đều đều. Hôm ấy không nhớ rõ hôm nào, thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được tin trận giặc Xiêm đã chấm dứt. Tây và Xiêm dường như thủ huề. Thầy tự ý ra lịnh trả tự do cho ông Tư Thông. Ông Tư Thông ngạc nhiên: “Tôi bị giam hồi nào?” “Ông chủ quận biểu tôi giữ ông lại để làm tù binh, chờ mãn giặc mới thả ông về Cổ Tron.” “Về thì về, không sao đâu” – ông lẩm bẩm. Thầy hương quản hỏi: “Hồi bị giam, ông có đồ đạc gì bị tịch thâu không? Tôi kêu nài giùm.” “Vài ốp nhang, đèn cầy, kim may quần áo, đường cát trắng… Nhưng mà thôi. Ở ngoài, dầu không có mấy thứ đó… Nhưng cũng như có.” Gặp dịp thuận tiện, thầy hương quản tìm ghe cho ông quá giang ra hòn Sơn Rái. Ông ra đi, lòng vương vấn chút buồn. Dư luận trong xóm nổi lên bàn tán xôn xao. Người thì cho rằng ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới, thí dụ như “Đạo Tịnh”, bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng “yên tịnh”. Kẻ khác hồ nghi rằng ông ở Côn Nôn thả bè vượt ngục trốn về. “Nè cha nội sành sỏi lắm! Cây đèn “măng sông” của Chệt Kỵ hư “béc” đốt không cháy, vậy mà cha nội sửa lại được trong nháy mắt…” Lại còn nhiều giả thuyết khác ác độc hơn, cho rằng ông thường lân la mấy nhà có đàn bà góa, gái tơ, vân vân… Nhưng thời gian là vị trạng sư hùng biện nhất đã minh oan cho ông Tư Thông. Dư luận bất chính dần bị đánh tan, lãng quên. Kỷ niệm về ông lần lượt trở nên trong sáng, tươi đẹp. Chiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Tư Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn, như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhất và không có hồi sau phân giải, gợi lên một nỗi hoài niệm miên man, đầy chiêm nghiệm.

Ông Tư Thông: Chân dung người ẩn sĩ hòn Cổ Tron

Posted in Truyện Sơn Nam

Bài tham khảo