Menu Đóng

Đặc điểm của sân khấu Cải Lương

Ảnh sepia vintage chụp một nữ nghệ sĩ cải lương trong trang phục truyền thống đang biểu diễn đầy cảm xúc trên sân khấu cũ.

Nghệ thuật cải lương ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20 tại miền Nam Việt Nam, đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng của sân khấu dân tộc. Từ phong trào ca nhạc tài tử, cải lương đã phát triển thành loại hình ca kịch độc đáo, khác biệt hoàn toàn với hát bội về nội dung, bố cục, và phong cách biểu diễn, đồng thời kế thừa và làm giàu thêm kho tàng âm nhạc cổ truyền của Lục Tỉnh. Đây là sự kết hợp tinh tế giữa diễn xuất hiện đại và làn điệu dân ca.

Định hình một loại hình sân khấu mới

Vào năm 1920, sự ra mắt của đoàn hát Tân Thinh đã chính thức hóa sự hiện diện của cải lương. Họ không chỉ dùng tên “đoàn hát” mà còn ghi rõ là “đoàn hát cải lương”, treo đôi liễn hàm chứa triết lý nghệ thuật: “Cải cách hát ca theo tiến bộ/ Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”. Đôi liễn này đã nêu bật ý nghĩa cốt lõi của cải lương: sự thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn so với hát bội, từ động từ thông thường trở thành một danh từ riêng chỉ loại hình sân khấu đặc sắc. Sân khấu cải lương khác hẳn hát bội về mọi mặt, từ nội dung tuồng tích đến kỹ thuật trình diễn.

Cấu trúc kịch bản và đề tài tuồng

Ban đầu, những soạn giả đầu tiên của cải lương là những người từng viết tuồng cho sân khấu hát bội. Tuy nhiên, lớp soạn giả kế thừa đã nhanh chóng tiếp thu phong cách bố cục của kịch nói phương Tây. Vở kịch cải lương được phân chia rõ ràng thành hồi, màn, lớp, có mở màn và hạ màn, theo sự tiến triển lô-gíc của hành động. Vai trò của soạn giả và đạo diễn được giấu kín, không lộ liễu như trong hát bội.

Ban đầu, các vở cải lương về tích xưa (thường gọi là tuồng Tàu) có thể còn phảng phất kiểu bố cục của hát bội. Thế nhưng, các tuồng xã hội mới hoàn toàn đi theo bố cục kịch nói hiện đại. Dần dà, ngay cả các vở về đề tài lịch sử hay truyện xưa cũng được xây dựng theo cấu trúc kịch nói, tạo sự mạch lạc và gần gũi hơn với khán giả.

Về đề tài, cải lương ngay từ đầu đã khai thác các truyện Nôm quen thuộc như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, hay các câu chuyện diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương thời. Để chiều lòng thị hiếu khán giả, sân khấu cải lương cũng dựng các tích truyện Trung Hoa đã từng được yêu thích trên sân khấu hát bội. Về sau, nhiều soạn giả tân học đã dựng nên những cốt truyện có nhân vật, địa danh mang vẻ Trung Quốc nhưng cảnh ngộ, tình tiết lại phản ánh sâu sắc xã hội Việt Nam.

Ca nhạc: Linh hồn của cải lương

Cải lương là loại hình ca kịch, nơi ca hát giữ vai trò chủ yếu. Đây là ca kịch, không phải nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca dựa trên các bản nhạc có sẵn, sao cho phù hợp với tình huống và sắc thái tình cảm của nhân vật.

Về mặt âm nhạc, cải lương đã sử dụng và làm giàu vốn dân ca nhạc cổ phong phú của vùng Lục Tỉnh. Trong quá trình phát triển, vốn nhạc này được bổ sung thêm các bài bản mới, nổi bật nhất là bài Dạ cổ hoài lang (sau này là Vọng cổ), trở thành dân ca tiêu biểu của sân khấu cải lương. Ngoài ra, cải lương còn tiếp thu một số điệu ca gốc Trung Hoa đã được Việt Nam hóa và phổ biến rộng rãi trong dân chúng Nam Bộ từ lâu đời.

Diễn xuất và y phục

Diễn viên cải lương diễn xuất một cách tự nhiên, đặc biệt là khi thể hiện các tuồng xã hội, phong cách gần như kịch nói. Điểm khác biệt lớn nhất là thay vì đối thoại bằng lời nói, nhân vật cất tiếng ca, vì thế cử chỉ, điệu bộ cũng uyển chuyển, mềm mại theo lời ca. Dù không hoàn toàn giống kịch nói, diễn xuất vẫn gần gũi với hiện thực đời sống, không bị cường điệu hóa như hát bội.

Cải lương cũng có các động tác múa và diễn võ, nhưng nhìn chung đó chỉ là những động tác sinh hoạt được cách điệu hóa để hài hòa với lời ca, chứ không phải là hình thức bắt buộc.

Đối với y phục, trong các vở đề tài xã hội, diễn viên mặc trang phục giống hệt nhân vật ngoài đời thực. Đối với tuồng lịch sử dân tộc, truyện cũ Trung Hoa, hoặc các vở phóng tác từ nước ngoài, y phục được lựa chọn để gợi ra xuất xứ của cốt truyện và nhân vật, nhưng thường chỉ mang tính ước lệ, chưa hoàn toàn sát với hiện thực.

Âm nhạc cải lương: Sự kế thừa và phát triển

Mọi nền âm nhạc đều tuân theo quy luật kế thừa và phát triển, ăn sâu vào tâm sinh lý và mang tính di truyền của tộc người. Âm nhạc cải lương không nằm ngoài quy luật này.

Người ta thường nói cải lương xuất phát từ Lục Tỉnh, một cách nói rút gọn về mặt địa lý. Thực chất, nhạc cải lương là một loại nhạc sân khấu, phát triển dựa trên phong trào ca nhạc tài tử, một phong trào chơi nhạc không chuyên lan rộng khắp Nam Bộ. Loại hình này bắt nguồn từ nền ca nhạc dân gian lâu đời của Việt Nam, đồng thời phát triển song song với các cuộc di dân về phương Nam của cha ông ta. Càng đi xa khỏi đất Tổ, những cây đàn cũ càng trở nên linh động, mang màu sắc mới lạ, biến thành một loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo, phản ánh đức tính cần cù, óc sáng tạo và tinh thần đấu tranh sinh tồn của người Việt.

Âm nhạc cải lương chịu ảnh hưởng từ hai nền nhạc lớn tồn tại từ thời cổ: nền ca hát dân gian và nền nhạc khí dân gian. Hai yếu tố này tạo nên phong cách đặc biệt cho cải lương, nơi ca hát và nhạc khí cùng thúc đẩy nhau, tạo ra tính chất sân khấu và sự đối lập bè phái trong dàn nhạc. Hiện nay tại miền Nam, dân chúng chủ yếu còn nghe khí nhạc tế tự (nhạc lễ), còn âm hưởng cung đình đã lùi vào dĩ vãng.

Từ khi chữ Nôm xuất hiện, thơ ca dân gian càng phát triển mạnh mẽ. Ở Huế, nền nhã nhạc hình thành, tạo cơ sở bác học cho sự kế thừa và phát triển của phong trào ca nhạc tài tử Miền Nam. Nghệ thuật âm nhạc miền Trung dần lan tỏa khắp thôn xã, hòa quyện với một vài yếu tố âm nhạc dân gian Trung Hoa. Tài khéo léo và óc sáng tạo của con người Việt đã thay đổi các loại hình nghệ thuật để phù hợp với thẩm mỹ quần chúng.

Nhạc cải lương lớn lên trong lòng người Việt cần cù, gian khổ và đầy thử thách. Khi phát triển vào Nam Bộ, nhạc miền Trung bị mất đi một phần đặc điểm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tiết tấu sinh hoạt và ngôn ngữ của người dân Nam Bộ.

Sự trỗi dậy của ca nhạc tài tử

Từ thời triều đình nhà Nguyễn, xã hội Nam Kỳ phân hóa nhanh chóng. Sự đổ vỡ của ý thức hệ phong kiến do phương thức sản xuất tư bản xuất hiện đã khiến tư tưởng con người thoát ly dần các tục tập cũ kỹ, lỗi thời. Sự thoái trào của nhạc lễ nhường chỗ cho sự phát triển mạnh mẽ của phong trào ca nhạc tài tử từ chính nền nhạc lễ. Phong trào dân ca được quần chúng ưa thích, lan rộng khắp Nam Bộ. Số người biết đàn, biết ca ngày càng đông, nhất là ở vùng nông thôn, với hình thức nghệ thuật tao nhã, đơn giản mà bất kỳ người nông dân nào cũng có thể học được. Từ khối quần chúng vĩ đại này, nhiều nhân tài âm nhạc và sân khấu cải lương đã xuất hiện.

Nhạc tài tử dần phát triển cả về nội dung và hình thức, tiếp thu thêm dân ca địa phương, hò, lý, nói thơ. Đồng thời, nhạc lễ được cách tân toàn bộ, từ loại khí nhạc trở thành những ca khúc tự sự, phản ánh tinh thần của thơ ca truyền thống như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên. Phong trào phát triển từ thành thị đến nông thôn, trở thành nhu cầu thiết yếu trong các dịp hội hè, cưới hỏi, mang đến cảm xúc mới mẻ.

Phong trào ca nhạc tài tử hình thành các trung tâm lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ, Bạc Liêu. Ngoài việc sáng tạo thêm các khúc thức mới, các nhà âm nhạc còn khái quát hóa hệ thống điệu thức truyền thống, phân chia thành các loại hơi chủ yếu:

  • Hơi Bắc: Khái quát các điệu thức mang tính chất trong sáng, vui khỏe.
  • Hơi Nam: Khái quát các điệu thức trang nghiêm, đồng thời phân chia thành các hơi cụ thể hơn như hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo.
  • Hơi Oán: Là hơi được sáng tạo sau này, hoàn toàn thoát ly cấu tạo kiểu nhạc lễ, phản ánh hơi thở của cuộc sống đương thời.

Việc phân chia thành các loại hơi, xuất phát từ mẫu giai điệu và điệu thức, có tác dụng lập thành các mô hình âm thanh, tạo ra các âm hình cơ bản (motif) được sử dụng trong quá trình nhạc khúc, phù hợp với tập quán sáng tạo âm nhạc của nhân dân ta qua nhiều thời đại.

Hai phong cách diễn xướng: Tài tử và cải lương

Nhạc tài tử đã đóng góp nhiều yếu tố mới vào đời sống âm nhạc quần chúng, được bà con nông dân yêu mến và bảo vệ, mở đường cho sự xuất hiện của nghệ thuật sân khấu cải lương. Từ một hình thức ca hát thính phòng của phong trào nhạc tài tử, một bộ phận đã tách ra thành hình thức diễn xướng (nói lối, ngâm thơ, ca hát), tức là ca ra bộ (vừa ca vừa làm điệu).

Trong nghiên cứu âm nhạc, tồn tại hai phong cách diễn tấu nhạc cụ và ca hát:

  • Phong cách tài tử: Mang tính chất thính phòng, tổ chức thân mật trong nhà, công viên, hoặc trên thuyền đêm trăng, đi sâu vào chiều sâu tình cảm. Người đàn và hát chủ yếu phục vụ người nghe.
  • Phong cách cải lương: Thể hiện tính sân khấu, nơi trung tâm là diễn xuất. Các bộ môn nghệ thuật khác, bao gồm âm nhạc, hỗ trợ để đạt được hiệu quả sân khấu tổng thể.

Vấn đề ca hát hoặc diễn tấu nhạc cụ trong cải lương phải mang tính chất hành động, khác với biểu diễn tài tử, vì đặc trưng của sân khấu cải lương là ca hát. Ca hát tài tử và ca hát sân khấu là hai lĩnh vực khác nhau, mỗi bên đều có những nghệ sĩ tiêu biểu. Chẳng hạn, trong ca hát sân khấu cải lương có các ngôi sao như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu; còn ca sĩ tài tử nổi tiếng là cô Tư Sang, cô Ba Bến Tre, cô Tư Bé, Năm Nghĩa. Các tác giả âm nhạc tài tử như ông Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), ông Bảy Triều; các tác giả nhạc sân khấu như các ông Mộng Vân, Bảy Nhiêu, Tư Chơi, Sáu Hải đã đóng góp nhiều sáng tác mới, phù hợp với đà phát triển của cải lương, trong đó có bài vọng cổ đã trở thành chủ đề âm nhạc lớn, giúp nhiều nghệ sĩ xây dựng sự nghiệp.

Chính nhờ những hạt giống nảy mầm từ lòng dân tộc và sự nuôi dưỡng của nhân dân qua nhiều thế hệ, nghệ thuật cải lương mới có thể tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay.

Dàn nhạc cụ truyền thống của cải lương

Âm nhạc cải lương có âm điệu nhẹ nhàng vì sử dụng đàn dây tơ và dây kim, không có kèn trống mạnh mẽ như hát bội. Dưới đây là sáu loại đàn thường dùng trong cải lương:

1. Đàn kìm (Nguyệt cầm)

Đàn kìm có hai dây tơ và tám phím. Tuy tiếng kìm không trong và thanh bằng tiếng Tranh hay Lục huyền cầm, nhưng nó có âm hưởng lớn, khi hòa tấu với đàn Tranh nghe rất hay. Tùy theo hơi cao thấp của diễn viên, đàn kìm có thể đờn năm dây Hò khác nhau.

2. Đàn tranh (Thập lục)

Đàn tranh có 16 dây. Tiếng đàn tranh thanh tao nhờ dùng dây kim và kỹ thuật nhấn tiếng có độ ngân nhiều. Giống như đàn kìm, đàn tranh có thể đổi bực dây Hò tùy theo hơi cao thấp của người ca.

3. Đàn cò (Đàn nhị)

Đàn cò có hai dây tơ, không có phím, dùng cây cung để kéo ra tiếng. Đàn cò là nhạc cụ đắc dụng nhất của âm nhạc Việt Nam, tương tự như violin trong âm nhạc Âu Mỹ. Nó luôn có mặt trong hát bội, cải lương và nhạc tài tử.

4. Đàn sến

Đàn sến có hai dây tơ và đủ bậc như cây banjo, nên khi đờn ít nhấn và có nhiều chữ lợ nghe ngộ. Đôi khi đàn ba dây, âm thanh nghe hơi giống đàn Tỳ.

5. Guitar (Lục huyền cầm/Tây ban cầm)

Cây guitar có sáu dây kim, nhưng thường chỉ đờn năm dây. Khi đờn bực cao, tiếng đàn thanh như đàn tranh.

6. Violin (Vĩ cầm)

Violin có bốn dây tơ và dùng cung kéo như đàn cò. Đàn này dùng để phụ họa với guitar hay đàn tranh khi đờn vọng cổ nghe hay, nhưng ít dùng cho các bản khác vì tiếng kêu lớn, dễ lấn áp các nhạc cụ khác.

Ngoài ra còn có sáo và cuỗn:

  • Cây sáo (hoặc ống tiêu) cũng được dùng trong cải lương, nhưng nó chỉ có một bậc Hò cố định, không thay đổi được. Người ta phải theo bậc Hò bất di bất dịch ấy.
  • Cây cuỗn giống như cây kèn, nhưng không có cái loa.

Âm điệu và sự tự do của nghệ sĩ

Bài ca cải lương được đặt theo bản đờn, khiến kịch sĩ phải phụ thuộc vào âm nhạc và không được tự do phô diễn hết tài năng của mình như trong hát bội. Nếu ca dư hơi thì đàn phải trễ, còn thiếu hơi thì dứt trước đàn. Kịch sĩ bị bó buộc trong khuôn khổ nhịp đờn, dù có làn hơi dày cũng không thể vượt ra ngoài nhịp vì sợ ca sai nhịp.

Về sau này, bản Vọng cổ trong điệu cải lương được thêm nhiều nhịp. Bài ca vọng cổ đặt không ăn sát từng câu đờn, chỉ cần vô đầu và dứt câu đờn cho đúng hơi, đúng nhịp. Nhờ sự nới lỏng này, nhiều kịch sĩ đã được tự do phô bày hết khả năng của mình.

Một điểm hạn chế khác là việc chuyển đột ngột từ lời nói sang lời ca. Ngoại trừ một số danh ca biết cách “mở hơi” để câu ca có hứng thú, phần đông nghệ sĩ vô ca nghe khô khan, thiếu mùi vị. Lỗi này một phần do ban âm nhạc thờ ơ, không biết chỗ nào sắp ca để giao đờn trước, nhằm gợi ý cho khán giả cảm giác vui buồn, điều mà âm nhạc hát bội thường làm tốt hơn.

Ưu điểm lớn của cải lương là nhờ âm nhạc biết tùy theo hơi cao thấp của kịch sĩ để lên dây Hò, giúp nghệ sĩ ca đúng hơi “thiên phú” của mình mà không cần phải cố gắng lên hơi quá sức như bên hát bội.

Cải lương: Từ dân ca Lục Tỉnh đến sân khấu ca kịch độc đáo

Posted in Nghệ thuật

Bài tham khảo