Vè là loại hình diễn xướng dân gian độc đáo, từng thịnh hành trong sinh hoạt văn hóa xưa, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội từ sinh hoạt thường nhật đến các sự kiện lịch sử lớn. Ở Nam Bộ, vè không chỉ là tri thức dân gian, mà còn là công cụ phê phán sắc bén, lưu giữ giọng điệu mộc mạc và tinh thần đấu tranh kiên cường của người dân qua những câu ca giàu vần điệu, dễ thuộc, dễ nhớ.
Trong kho tàng văn hóa dân gian Nam Bộ, vè giữ một vị trí đặc biệt như một dạng “báo nói” cổ xưa. Nó có khả năng phản ánh tức thời và rộng rãi các biến cố, sự kiện xảy ra trong xóm làng, địa phương, hay thậm chí là cả dân tộc. Không chỉ truyền tải tin tức, vè còn là tập hợp những tri thức dân gian về tự nhiên, về đạo lý làm người, được kết cấu bằng cách bắt vần một cách linh hoạt, tạo nên những khuôn mẫu dễ truyền tụng và khắc sâu vào trí nhớ cộng đồng.
Mặc dù vè mang sắc thái gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhưng để hình thành một bài vè hay và có sức sống, nó cần phải vượt qua sự đơn thuần của câu chữ. Nội dung không chỉ cần dồi dào ý nghĩa mà còn phải tuân thủ nghiêm ngặt về vần luật và ngôn ngữ. Theo nghiên cứu, vần trong vè là loại vần cước hoặc vần yêu, được biến chuyển tùy hứng một cách du di, linh động theo cảm xúc người kể. Quan trọng hơn, ngôn phong của vè phải hoàn toàn bình dân, đậm đà hơi thở địa phương, xa rời mọi kiểu cách trau chuốt của văn chương bác học.
Hình thức diễn xướng và cấu trúc của vè
Khi xét về hình thức, vè miền Nam thường được chia thành hai lối cơ bản: lối chính thức và lối biến thức. Lối chính thức là hình thức phổ thông nhất, với câu từ ngắn gọn, thường chỉ từ hai đến năm tiếng, lời lẽ và tình ý vô cùng mộc mạc, phù hợp với cách kể chuyện có xen lẫn bình luận mang tính hậm hực, phê phán. Chính vì thế, khi nhắc đến vè, người ta thường nhớ ngay đến những câu mở đầu mang tính hiệu triệu quen thuộc:
Nghe vẻ nghe ve! Nghe vè lân ấp! Sáu Nịch ăn cắp, Tư Mách thấp lùn. Ông Tùng hiền hậu…
Ngược lại, lối biến thức có câu dài ngắn không chừng, mang lời lẽ tương đối văn vẻ và học thức hơn. Tuy nhiên, lối chính thức vẫn chiếm ưu thế trong đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian.
Năm mảng đề tài chính làm nên hồn cốt của vè
Về mặt nội dung, vè Nam Bộ được phân loại thành năm mảng đề tài lớn, mỗi mảng phản ánh một khía cạnh sâu sắc của đời sống xã hội và văn hóa bản địa.
Vè ca ngợi sự trù phú của thổ sản địa phương
Loại vè này ra đời nhằm giới thiệu và tôn vinh những đặc sản, sản vật phong phú của quê hương. Thông qua các bài vè, người dân thể hiện lòng tự hào sâu sắc về vùng đất trù phú và tình cảm gắn bó với thiên nhiên, sản vật nơi mình sinh sống. Những bài vè tiêu biểu cho mảng này thường là: Vè bánh, vè trái cây, vè cầm thú, vè cá tôm, hay vè rắn…
Thử lắng nghe điệu vè chim chóc để thấy sự mô tả chân thực và sống động:
Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè chim chóc. Hay moi hay móc, Vốn thiệt con dơi. Thấy nắng thì phơi, Là con diệt mốc. Lặn theo mấy gốc, Là chim thằng chài. Lông lá thật dài, Là con chim phướn. Rành cả bốn hướng, Là con bồ câu.
Vè về các ngành nghề và lễ tục ở nông thôn
Mảng đề tài này phản ánh gần như đầy đủ các hình thái sinh hoạt của nhân dân Nam Bộ, kèm theo những chi tiết lịch sử cụ thể và sắc nét. Do đó, ngoài giá trị văn học dân gian, những bài vè này còn chứa đựng giá trị sử học và dân tộc học to lớn, là tư liệu quý giá về nếp sống, lao động và tập quán xưa. Trong đó, khối lượng lớn nhất là những đoạn kể về đời sống lam lũ, nỗi khổ cực của người lao động trong xã hội cũ. Những yếu tố này đã nâng cao tính thẩm mỹ và khuynh hướng phê phán, đưa vè kể việc đến gần với vè thế sự. Các bài vè phổ biến có thể kể đến như: Vè làm ruộng, vè đánh lưới, vè chăn vịt, vè đám cưới, vè chợ tết…
Dưới đây là một đoạn trích Vè làm ruộng mô tả sự chuẩn bị cho mùa màng:
Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè làm ruộng. Sắm trâu cùng xuồng, Sắm ách cùng cày. Đi vay tiền ngày, Đi quơ tiền tháng. Sắm một cái phảng, Đáng giá năm quan. Trời cho mưa xuống, Nước nổi đầy đồng. Bớ chú đàn ông, Be bờ gieo mạ…
Vè giáo huấn, phê phán thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội
Đề tài giáo huấn ra đời nhằm mục đích giữ gìn đạo đức xã hội khi có dấu hiệu suy đồi, đồng thời đả kích mạnh mẽ các thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội. Trong bối cảnh xã hội thuộc địa đầy rẫy bất công và tình trạng suy đồi đạo đức phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các thành thị, vè trở thành một công cụ phê phán sắc bén. Nó vạch trần và lên án những tiêu cực, khuyên răn con người hướng tới điều thiện. Các bài vè như Vè chửa hoang, vè làm biếng là những ví dụ điển hình.
Vè giáo huấn thường mang tính chính luận sâu sắc, nêu bật những đạo lý gia trưởng và phong kiến, những khuôn phép ứng xử phức tạp như mẹ chồng nàng dâu hay chồng chúa vợ tôi, dù những khuôn phép ấy đang dần lùi vào dĩ vãng trước sự thay đổi của thời cuộc. Những bài tiêu biểu là Vè dạy con, vè dạy vợ.
Những lời than vãn, cảnh tỉnh về sự đổi thay của lòng người được ghi lại đầy xót xa:
Làm cho thiên hạ đeo phiền, Buồn hiu quân tử, điếng điêu anh hùng. Làm cho lỗi thuở đạo nhà Năm giồng ba mối chẳng hòa vì ai. Làm cho son phấn đổi màu, Khó nghèo nỡ phụ, sang giàu a dua. Hư người thục nữ cũng hung, Đành đem má phấn chôn bùn vì ai”.
Vè tố cáo sự tham lam, độc ác của chế độ phong kiến và thực dân
Mảng vè này tập trung vào việc nói lên thân phận cùng khổ của người dân dưới ách áp bức của chế độ phong kiến trước khi thực dân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ. Vè là tiếng nói phê phán gay gắt các chức việc cấp làng, đả kích thói rượu chè, cờ bạc và sự độc ác của những kẻ có quyền thế. Các bài vè nổi tiếng trong mảng này bao gồm: Vè hương chức, vè Lễ Tết quan, vè hạn hán…
Bài Vè hương chức hồi tề là một bức tranh sinh động về sự tha hóa của quan chức cơ sở:
Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè hương chức. Người mà không cực, Giàu có bạc ngàn. Hương chủ trong làng, Muốn tìm vợ bé. Bộ Mỗ cũng lẹ, Mới chịu làm mai. Mua rượu hai chai, Đem về để đó. Mới kêu thầy Có, Mà hỏi đôi lời. Em chịu ở đời, Với người giàu có. Vợ thì ta có, Mà không có con. Kiếm gái còn non, Đem về nối nghiệp.
Vè nói về lòng yêu nước và ghi lại các biến cố lịch sử
Loại vè này có nhiệm vụ ghi lại những sự kiện lớn của từng địa phương, đặc biệt là những biến động liên quan đến vận mệnh dân tộc. Dưới thời thực dân cai trị, vè đã khắc họa rõ nét sự mất mát, khổ cực của người dân Việt Nam, bị bóc lột đến tận cùng:
Lâu nay làm chẳng có ăn, Người dân Nam Việt làm thằng cu li.
Đến khi quyền lực thống trị rơi vào tay phát xít Nhật, dù cùng màu da nhưng người dân vẫn không thoát khỏi cảnh đói khổ, áp bức. Vè Nhật Bổn đã ghi lại sự thật phũ phàng đó:
Truyền rao phú lít, mã tà, Cho nguyên như cũ, đem ra gác đường. Thấy người nghèo khó mà thương, Xách chổi quét đường đói cũng như xưa.
Tóm lại, vè là loại hình diễn xướng dân gian mang giá trị to lớn, đóng góp thiết thực vào kho tàng văn học dân gian Nam Bộ. Vè không chỉ là tấm gương soi chiếu lịch sử chân thực, là tiếng nói đấu tranh kiên cường của nhân dân lao động, mà còn là bài học làm người khôn ngoan, là tiếng cười đả kích sảng khoái nhưng ẩn chứa sự sâu cay đối với những thói hư tật xấu trong xã hội. Đặc biệt, với khả năng truyền bá nhanh chóng, vè còn có sức mạnh định hướng dư luận, tác động mạnh mẽ vào tinh thần quần chúng, giúp giác ngộ họ đâu là điều hay lẽ phải, đâu là nẻo chính đường tà.
