Menu Đóng

Vĩnh Long, Trà Vinh: Xuồng ghe với nét văn hóa Mê Kông

Vùng đất Vĩnh Long và Trà Vinh, tọa lạc giữa dòng Mê Kông cuồn cuộn, từ lâu đã gắn liền với bức tranh sông nước mênh mang. Nơi đây, hệ thống kênh rạch chằng chịt không chỉ định hình cảnh quan mà còn khắc sâu vào đời sống, văn hóa của người dân. Chiếc xuồng, chiếc ghe mộc mạc đã trở thành biểu tượng, là phương tiện mưu sinh và là chứng nhân của quá trình khai phá, gìn giữ hồn quê miệt vườn.

Nằm vắt mình giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của dòng Mê Kông hùng vĩ, trải dài gần một trăm cây số là địa phận của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Dù từng có giai đoạn hợp nhất thành một tỉnh từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1992, nhưng nơi đây vẫn luôn mang trong mình những đặc trưng riêng biệt của một vùng đất phù sa trù phú. Đặc trưng nổi bật nhất chính là mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cùng với vườn cây ăn trái sum suê, phong phú bậc nhất miền Tây Nam Bộ.

Sự dày đặc của hệ thống thủy lộ nơi đây từng được một tài liệu khảo sát của người Pháp vào năm 1937 ghi nhận. Thời điểm ấy, trên địa bàn Vĩnh Long (bao gồm cả Trà Vinh, Chợ Lách – Bến Tre, Sa Đéc – Đồng Tháp ngày nay), trung bình cứ mỗi kilômet vuông đất lại có một con sông, kênh hoặc rạch. Trải qua gần 300 năm kể từ khi chúa Nguyễn đặt tên vùng đất này là Long Hồ Dinh vào năm 1732, người dân đã không ngừng khai phá, mở rộng thêm các tuyến đường thủy phục vụ cho việc mưu sinh, khiến tỉ lệ này tuy có chút biến động nhưng thực tế lại gia tăng, minh chứng cho ý chí kiên cường của con người nơi đây.

Xuồng ghe và nhịp sống miền Tây

Trong tâm thức của người dân Vĩnh Long, Trà Vinh và khắp các vùng quê Nam Bộ, chiếc xuồng, chiếc ghe không chỉ là phương tiện giao thông mà còn là một phần máu thịt của cuộc sống. Đặc biệt khi mùa lũ về, xuồng ghe trở thành cứu cánh, là đôi chân của mỗi gia đình. Dù đi xa đến đâu, ký ức về chiếc xuồng chở nặng lúa, mạ, phân bón hay những chuyến chợ búa tấp nập vẫn luôn hiện hữu, như một lời nhắc nhở về cội nguồn sông nước.

Các khu chợ nổi trên sông, biểu tượng văn hóa đặc sắc của miền Tây, vẫn còn hiện diện và tấp nập hàng ngày. Những cái tên như chợ Quới Thiện (Cù Lao Dài), chợ Trà Ôn (ngã ba sông Hậu) hay chợ Lục Sĩ (Cù Lao Mây) đã đi vào lịch sử. Bên cạnh đó, hàng trăm chợ sông nhỏ hơn ở các ấp vùng sâu thuộc Bình Minh, Trà Ôn, Mang Thít, Long Hồ, Vũng Liêm cũng luôn sôi động, nơi xuồng ghe chính là những “gian hàng” di động đông đúc nhất.

Sự phổ biến của phương tiện đường thủy được thể hiện rõ qua các số liệu. Theo thống kê của Chi nhánh đăng kiểm Vĩnh Long (Sở Giao thông – Vận tải) vào ngày 14 tháng 3 năm 1998, toàn tỉnh Vĩnh Long ghi nhận 5.745 chiếc tàu ghe có động cơ, tải trọng từ 1 đến 15 tấn, chưa kể các loại xáng, cạp, phà chuyên dụng. Riêng ghe tải có 4.034 chiếc, trong đó 606 chiếc có trọng tải trên 15 tấn. Tại Trà Vinh, số lượng tàu, xuồng, ghe thậm chí còn vượt trội ở các huyện như Càng Long, Trà Cú, Cầu Kè, Duyên Hải.

Về tàu chở khách, người dân địa phương thường gọi là ghe lớn, toàn tỉnh có 1.057 chiếc phục vụ nhu cầu đi lại hàng ngày qua các khúc sông, rạch lớn nhỏ. Nhu cầu đi lại bằng xuồng ghe càng lớn hơn khi nhìn vào cơ cấu dân số: hơn 90% cư dân Vĩnh Long sinh sống ở khu vực nông thôn, nơi sông nước là huyết mạch chính. Hồi ức của các cụ già ở Cù Lao Mây, Cù Lao Dài trên sông Hậu (giữa Trà Vinh và Vĩnh Long) thường kể rằng họ lớn lên đã thấy xuồng rồi. Từ lúc chào đời nằm trong lòng mẹ trên xuồng, đến khi đi học, đi chơi, chữa bệnh, cưới hỏi, thăm viếng, mọi hành trình cuộc đời đều gắn bó mật thiết với phương tiện này. Chiếc xuồng, như một người bạn thủy chung, đã đồng hành, nuôi dưỡng một vùng đất, một con người đậm chất Nam Bộ rất đỗi riêng tư và bền chặt.

Lịch sử khai phá và sự gắn bó

Sự gắn bó giữa con người và xuồng ghe đã có từ rất lâu đời, thậm chí trước cả mốc son năm 1732 khi chúa Nguyễn đặt tên vùng đất này là Long Hồ Dinh. Theo các tài liệu sử học, từ khoảng năm 1658 đến 1669, dưới lệnh cưỡng bức di dân vào Nam của chúa Trịnh nhằm mở rộng lãnh thổ, nhiều đoàn người đã tìm đến định cư và khai phá các vùng đất dọc sông Đồng Nai, sông Tiền và sông Hậu. Đối mặt với một môi trường hoàn toàn mới mẻ, từ khí hậu, thổ nhưỡng đến mạng lưới kênh rạch chằng chịt, những người di dân buộc phải tự tay đóng xuồng để vượt sông, vượt rạch, phục vụ công cuộc mưu sinh và khai hoang.

Từ nhu cầu thiết yếu đó, chiếc xuồng dần trở thành vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình, đôi khi cần phải đóng thêm để đáp ứng đủ cho mọi thành viên. Chính vì vậy, kỹ năng chèo lái xuồng đã trở thành bản năng của người dân nơi đây, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù là cụ già tóc bạc hay những đứa trẻ mới lớn, ai ai cũng thành thạo những đường chèo, lái lụa trên khắp các con sông.

Đa dạng phương tiện thủy nội địa

Người dân Vĩnh Long, Trà Vinh đã sáng tạo và phân loại xuồng thành nhiều kiểu dáng phù hợp với từng mục đích sử dụng. Phổ biến nhất là xuồng ba lá, xuồng năm lá và xuồng tam bản. Trong đó, xuồng tam bản có kích thước lớn hơn, có khả năng chở từ 15 đến 20 giạ lúa. Ban đầu, xuồng thường chỉ dùng một chèo, nhưng để tăng tốc độ di chuyển, người dân đã cải tiến bằng cách sử dụng hai chèo cho xuồng tam bản.

Điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa xuồng tam bản và xuồng ba lá là ở cấu tạo đáy và mũi. Xuồng tam bản thường có đáy cong và mũi tròn, được ghép từ nhiều mảnh ván (thường là 5, 7 hoặc 9 tấm ván) để tạo độ chắc chắn. Ngược lại, xuồng ba lá có đáy bằng, phù hợp với việc di chuyển ở những vùng nước nông hay luồn lách qua các rạch nhỏ. Ngoài ra, còn có xuồng bơi, một biến thể có kích thước nhỉnh hơn xuồng ba lá một chút.

Bên cạnh các loại xuồng quen thuộc, ở những khu vực có mương nhỏ hẹp, người dân còn sử dụng một loại phương tiện đặc trưng khác gọi là “chẹt”. Chiếc chẹt được thiết kế nhỏ gọn, chiều ngang khoảng 0,5 mét và dài từ 1 đến 1,5 mét, giúp dễ dàng di chuyển qua các lạch nước hẹp. Vật liệu làm chẹt thường là gỗ mù u sẵn có trong vườn nhà, giá thành phải chăng. Chèo của chẹt thường được làm từ gỗ sao, đảm bảo độ chắc bền và khả năng đẩy nhanh.

Nghề đóng xuồng ghe truyền thống

Nghề đóng xuồng ghe tại Vĩnh Long và Trà Vinh đã tồn tại từ bao đời nay, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp phương tiện cho đời sống sông nước. Xưa kia, các trại đóng ghe xuồng mọc lên san sát dọc theo các dòng sông lớn như sông Tiền, sông Hậu hay sông Măng. Dù ngày nay số lượng có giảm bớt, nhưng mỗi huyện vẫn còn duy trì khoảng 5 đến 7 trại, tiếp nối truyền thống cha ông.

Nhiều trại ghe đã trở thành những cái tên lừng danh, được truyền nghề qua nhiều thế hệ. Tiêu biểu có thể kể đến các trại ghe nổi tiếng ở Trà Ôn như Năm Danh, Phước Thành, Năm Sên, Thanh Hải. Hay trại Hòa Hiệp tại Cầu Mới, cùng các trại ở ấp Thanh Vân và Thanh Khê thuộc xã Thanh Bình, Vũng Liêm. Tại Trà Vinh, nghề đóng xuồng ghe cũng rất phát triển ở các huyện Trà Cú, Cầu Kè, Cầu Ngang và Càng Long, góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của miền Tây sông nước.

Di sản văn hóa và hồn thơ sông nước

Chiếc ghe, chiếc xuồng không chỉ đơn thuần là phương tiện đi lại, mà còn là sợi dây vô hình kết nối cả cộng đồng người Việt trong hành trình khai phá, biến vùng đất Nam Bộ hoang sơ thành miền đất phì nhiêu. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, xuồng ghe vẫn kiên cường đồng hành cùng người dân, đặc biệt là ở Vĩnh Long, viết tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã dày công vun đắp.

Xuồng ghe đã hòa quyện vào cốt cách, tâm hồn của con người miền Tây, trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống. Đối với những người con xa quê, hình ảnh những vườn cây trĩu quả soi bóng mặt nước, hay dáng hình quen thuộc của chiếc xuồng ba lá, luôn là ký ức đẹp đẽ, là nguồn cảm hứng bất tận, hóa thành hồn thơ lắng đọng trong trái tim họ qua bao thế hệ. Để rồi, họ nhớ về quê hương với những câu thơ mộc mạc mà sâu lắng:

“… Những hạt cát liền nhau thành xứ sở Thành những ven sông, bến chợ, sân trường…”

Posted in Đời sống

Bài tham khảo