Menu Đóng

Ân tình cù lao

Bức ảnh sepia vintage mô tả chú Tòng và Hùng ngồi bên bờ sông cù lao, thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa họ.

Ngoại thường nói với “nó” rằng, ngoại quý chú Tòng bởi chú có cái tính chân thật, chất phác của người dân quê. Chú sẵn lòng làm bất cứ việc gì ai nhờ, giúp đỡ không một lời oán than hay đòi hỏi báo đáp. Tất cả cư dân nơi cù lao này, từ người già đến lũ trẻ con, đều yêu mến chú, bởi cái bản chất hiền lành và chịu thương chịu khó ấy. Và “nó” cũng coi chú Tòng như một người thân thiết nhất trong gia đình, chỉ sau ngoại.

Qua lời ngoại kể, chú Tòng mồ côi từ thuở nhỏ. Ba mẹ chú qua đời khi chú chưa tròn mười tuổi, để lại chú sống thui thủi một mình trong căn nhà lá đơn sơ ở rìa cù lao. Thương cảm số phận chú, người dân cù lao đồng lòng cưu mang. Người có gạo cho gạo, người có rau cho rau, ai có thức ăn ngon cũng mang qua san sẻ. Chú Tòng lớn lên từ chính sự đùm bọc, từ tình yêu thương vô bờ bến của mảnh đất và con người nơi đây. Chính vì thế, chú luôn mang nặng lòng biết ơn sâu sắc đối với đất và người cù lao.

Tình cảm ấy được chú Tòng thể hiện qua hành động. Nhà ai có việc, chú đều xông xáo giúp đỡ như thể đó là công việc của chính mình. Chú làm mà chẳng cần ai phải cảm ơn hay trả công, chỉ đáp lại bằng một nụ cười hiền lành với tất cả mọi người. Chẳng ai ở cù lao này từng thấy chú Tòng buồn bã hay than vãn bao giờ.

Dù đã ba mươi sáu tuổi, chú Tòng vẫn chưa từng có một mối tình nào. Mỗi lần được hỏi, chú lại cười xòa cho qua chuyện. Ở cái cù lao này, phụ nữ thậm chí còn đông hơn đàn ông, vậy mà chú vẫn chẳng để ý đến ai. “Nó” thầm đoán rằng, có lẽ chú tự ti về số phận cô độc của mình, hoặc đơn giản là chú chưa muốn lập gia đình vào lúc này.

===

Ngoại thường bảo “nó” mang đồ ăn ngon qua nhà chú Tòng. Có lúc chú ngại không dám nhận, nhưng sợ ngoại buồn nên chú đành cầm lấy cho ngoại vui lòng. Ngoại xem chú như con cháu trong nhà. Những lúc chú Tòng đau ốm, ngoại đều lặng lẽ qua thăm nom, chăm sóc ngày vài bận. Sự quan tâm ấy khiến chú Tòng vô cùng cảm động, đến mức chẳng thể nói thành lời. Những khoảnh khắc yếu lòng như vậy, nước mắt chú mới chịu rơi, chứ bình thường chú Tòng rất cứng rắn.

Chú Tòng giải thích rằng, những lúc nằm bệnh, chú thấy có lỗi vì không giúp đỡ được ai mà lại khiến mọi người phải lo lắng. Mỗi khi có người biết chuyện mang thức ăn, thuốc men qua nhà, mắt chú Tòng lại ngân ngấn lệ.

Bệnh chưa lành hẳn, chú Tòng đã lại tự làm hết công việc nhà, rồi còn đi giúp đỡ người khác. Ngoại biết, ngoại giận và không thèm nói chuyện, thì chú Tòng lại biện minh: “Con sinh ra ở cù lao, may nhờ đất và người cù lao cưu mang mới trưởng thành. Con phải làm tất cả để trả ơn họ, má ạ. Con sợ đến một lúc nào đó con nằm yên một chỗ, không thể báo đáp công ơn này thì cuộc sống của con coi như vô nghĩa mất rồi”.

Mùa gặt đến, cù lao trở nên nhộn nhịp, cũng là lúc chú Tòng bận rộn và vất vả hơn nhiều. Hết gánh lúa lên ghe đưa về từng nhà, chú lại nhận trông giữ những cánh đồng chưa kịp thu hoạch. Có khi chú thức trắng đêm vì lo sợ lúa của bà con bị kẻ gian lấy trộm. “Nó” xin ngoại ra canh lúa chung với chú Tòng. Ban đầu ngoại còn do dự, nhưng rồi cũng đồng ý.

Trong những đêm canh lúa, “nó” kể cho chú Tòng nghe đủ thứ chuyện. Từ chuyện để ý cô lớp trưởng da đen trên lớp, đến chuyện sau này lớn lên sẽ bỏ cù lao lên thành phố tìm cuộc sống hiện đại hơn. Rồi cả chuyện “nó” bị thằng Mèo đánh vì dám trộm xoài mang cho tụi con gái. “Nó” còn bảo chú Tòng bữa nào đi trả thù giúp. Chú Tòng chỉ gật đầu cười cười, rồi “nó” ngủ gục trong lòng chú lúc nào không hay.

Có lần, “nó” hỏi chú Tòng:

“Chú Tòng nè, hồi nhỏ chú không có ba mẹ, vậy chú có nhớ ba mẹ không?”

Chú Tòng trả lời: “Nhớ chứ. Ba mẹ là người sinh ra mình, nuôi nấng mình, sao lại không nhớ được.”

“Nó” chợt suy nghĩ rồi bảo:

“Mà chú Tòng sướng, hồi nhỏ chú còn biết ba mẹ. Chứ con á, đến giờ con còn chẳng biết ba mẹ con là ai. Con có hỏi ngoại, thì ngoại nói ba mẹ con đang sống trên thành phố. Vậy nên sau này lớn lên con cũng sẽ lên thành phố tìm ba mẹ cho bằng được.”

Nghe vậy, chú Tòng chỉ biết ôm nó vào lòng, xoa đầu và hát ru cho nó ngủ. Chú Tòng coi vậy chứ, hát tân cổ giao duyên hay hết chỗ nói.

Bữa khác “nó” lại hỏi:

“Chú Tòng nè, chú đã yêu bao giờ chưa? Sao con chẳng thấy cô gái nào đi chơi với chú hết vậy?”

Chú Tòng cười: “Chú yêu rồi nhóc con ạ!”

“Nó” ngạc nhiên: “Thế ạ? Vậy người yêu chú đâu sao không thấy qua thăm chú?”

“Người yêu chú cũng đang sống trên thành phố.”

“Vậy sao chú không đi tìm?”

“Chưa tới lúc, nhóc con ạ. Khi nào đi chú sẽ đi.”

“Hay là chú chờ con lớn rồi con và chú cùng lên thành phố, con đi tìm ba mẹ, còn chú đi tìm người yêu.”

“Ừ, như thế cũng được…”

===

Rồi thời gian trôi đi, “nó” lớn dần. Chú Tòng vẫn miệt mài sống vì cù lao, chưa một lần sống cho riêng mình. Điều đó “nó” hiểu rõ mỗi đêm nhìn vào đôi mắt chú.

Khi “nó” mười tám tuổi, chú Tòng cũng đã ngoài bốn mươi. Dù bận học hành và phụ giúp ngoại, “nó” vẫn giữ thói quen ghé nhà chú Tòng mỗi chiều. Chú Tòng đã có tóc lấm bạc, không còn trẻ trung nữa, nhưng vẻ ngoài hầu như chẳng thay đổi bao nhiêu. Chỉ có “nó” là đã khác, từ suy nghĩ, cách nói chuyện đến hành động, ra dáng một thanh niên cù lao rồi.

Càng lớn, suy nghĩ của “nó” càng sâu sắc. “Nó” ngẫm nghĩ rất nhiều về lời ngoại nói, lời của chú Tòng, và bất chợt thấy thương chú Tòng biết bao. “Nó” khâm phục lòng nhân hậu của chú. Chẳng biết từ lúc nào, “nó” bắt đầu gọi chú Tòng là ba và xưng con. Dù ban đầu hơi gượng gạo, chú Tòng vẫn vui vẻ chấp nhận cách gọi mới này.

Ngày “nó” nhận ra mình đã trưởng thành cũng đến. “Nó” xin phép ngoại cho mình lên thành phố làm việc và tìm kiếm ba mẹ ruột. Ngoại dường như đã lường trước điều này từ lâu, nên đồng ý không chút do dự. Ngoại biết, đây chính là thời điểm thích hợp để nói cho “nó” nghe những bí mật đã cất giấu suốt mười tám năm qua.

Ngoại đưa cho “nó” xem tấm hình một người con gái trẻ và kể rằng, đây là mẹ ruột của “nó”, người đã sinh thành ra “nó”. Vì hoàn cảnh éo le, mẹ “nó” phải bỏ cù lao và bỏ lại con mình để đi. Ngoại kể, ngoại cũng là đứa trẻ mồ côi được đất và người cù lao nuôi dưỡng, ngoại mang ơn suốt đời.

“Nó” và ngoại không hề có quan hệ ruột thịt. Ngoại nhận “nó” từ tay người thiếu nữ trẻ đẹp nhưng dễ tin người, người mang trong mình đứa con của kẻ bội tình mười tám năm trước. Ngoại lưỡng lự, nhưng chính những giọt nước mắt và lời cầu khẩn tha thiết của người con gái ấy đã khiến ngoại động lòng. Ngoại nhận “nó” về nuôi, xem “nó” như cháu ruột của mình.

“Nó” òa khóc nức nở khi nghe ngoại kể. Tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa và đau đớn cứ trào ra từng hồi.

Ngoại nhẹ nhàng bảo:

“Con có thể đi, vì đó là quyết định của con. Hãy làm theo những gì con muốn. Hãy suy nghĩ và quyết định đúng đắn để sau này không phải hối hận về những việc mình đã làm.”

“Nó” gật đầu, nước mắt vẫn rưng rưng.

===

Đêm cù lao lộng gió, ngoài trời mưa đổ nặng hạt. “Nó” đang sắp xếp quần áo cũ vào ba lô thì chú Tòng đến. Chú ngồi xuống bên cạnh, đưa cho “nó” một ít tiền rồi bảo:

“Ba chẳng có nhiều, chút ít này để con đi đường uống nước. Có bất cứ tin tức gì thì liên lạc về cho ngoại và cho ba biết.”

“Nó” lưỡng lự cầm số tiền chú Tòng đưa:

“Ba Tòng không đi thành phố tìm người yêu với con à?”

“Người yêu nào ta?”

“Người yêu trên thành phố mà ngày xưa ba nói đó.”

“À… à…” – Chú Tòng ấp úng – “Người yêu ba lấy chồng rồi. Cô ấy nói ba hãy quên cô ấy đi!”

“Vậy là ba sẽ không đi thành phố nữa?”

“Ừ, ba phải ở lại cù lao để giúp đỡ mọi người. Ba không thể vì chút riêng tư mà bỏ cù lao được. Cuộc sống và số mệnh của ba đã thuộc về đất và người cù lao từ lâu rồi. Con lên đường may mắn. Nhớ giữ liên lạc thường xuyên.”

Đêm cù lao trôi qua chầm chậm, “nó” không sao chợp mắt được. Ngoài trời mưa vẫn rả rích rơi, mắt “nó” mở thao láo, tai lắng nghe tiếng gió lùa ngoài rìa cù lao rin rít, ràn rạt.

Sáng sớm, chuyến đò rời cù lao đã chật kín khách. Ngoại và chú Tòng dậy sớm để tiễn “nó” đi thành phố. Khi đò rời bến, ngoại và chú Tòng đứng nán lại thêm phút chốc, đưa tay vẫy chào tạm biệt. “Nó” vội vàng quay mặt đi, sợ sự lưu luyến khiến mình yếu đuối. Nước cù lao cứ thế gợn gợn theo từng vạt chèo nghiêng nghiêng.

“Nó” còn đang phân vân, mơ hồ trong mớ suy nghĩ hỗn độn thì có tiếng ngoại gọi khiến “nó” giật mình:

“Kìa Hùng, dậy mà đi cho kịp chuyến đò sáng, không lại trễ đò bây giờ.”

“Nó” dụi mắt, hóa ra nãy giờ “nó” chỉ nằm mơ. Vậy mà “nó” cứ tưởng mình đã rời cù lao đi rồi.

“Dậy đánh răng rửa mặt, ngoại đi nấu cho miếng cơm ăn cho chắc bụng rồi hãy đi.”

Vừa dứt lời, ngoại liền bỏ đi thì “nó” kéo tay ngoại lại:

“Thôi ngoại khỏi nấu đi ngoại. Con không muốn ăn đâu.”

“Ơ cái thằng này, không ăn sao có sức mà đi xe lên thành phố? Cả chục tiếng đồng hồ chứ ít ỏi gì.”

“Con quyết định rồi, cả đêm qua con suy nghĩ rất kỹ. Con sẽ không đi thành phố nữa, con sẽ ở lại cù lao sống với ngoại, với ba Tòng và với mọi người.”

“Thật hả? Mà con đã suy nghĩ kỹ chưa? Để sau này không phải hối tiếc về việc con đã quyết định ngày hôm nay.”

“Dạ rồi! Con sẽ ở lại cù lao để sống cuộc sống như ngoại, như ba Tòng, để trả ơn đất và người cù lao đã cưu mang con.”

“Nó” vừa dứt lời, ngoại vội ôm “nó” vào lòng, xoa xoa đầu mà cười. Ngoại cười nhưng nước mắt cứ thi nhau chảy ra. “Nó” đưa bàn tay lên lau từng giọt nước mắt cho ngoại. Lâu lắm rồi “nó” mới thấy ngoại vui, một niềm vui bằng nước mắt.

Ân tình cù lao: Chú Tòng và khúc ca hy sinh thầm lặng

Posted in Truyện ngắn

Bài tham khảo