Menu Đóng

Chuyện rừng tràm

Hình ảnh người đàn ông chứng kiến bóng trắng của cô gái điên loạn bên đống củi lậu trong rừng tràm Cà Mau dưới ánh trăng.

Rừng Cà Mau thời Pháp thuộc là một mê cung hiểm trở, nơi cuộc sống của những người làm nghề phá củi lậu thuế ẩn mình ngoài vòng pháp luật. Giữa chốn thâm u này, câu chuyện về người đội kiểm lâm vô tình phát hiện ra cả một xóm chợ chui trở thành giai thoại, phản ánh sự mưu sinh đầy rẫy hiểm nguy và bi kịch của những phận người miền cực Nam Tổ quốc.

Giai thoại thầy đội kiểm lâm và xóm củi lậu

Giữa thâm u Cà Mau, người ta thường kể giai thoại về thầy đội kiểm lâm X. Năm đó, thầy vừa đáo nhậm ở lô rừng 321. Thầy đội mê săn chim, ngày ngày một mình bơi xuồng len lỏi qua các con rạch ẩn khuất. Đến một buổi, thầy nghe tiếng gõ kiến quen thuộc – âm thanh vốn chỉ thuộc về vùng đất cao, không bao giờ xuất hiện trong rừng tràm trầm thủy. Cảm thấy lạ lùng, thầy ghé xuồng lại sát hướng tiếng kêu, xác nhận rõ ràng âm thanh “cóc cóc” đều đặn.

Càng đi sâu vào, mái dèo (dầm) càng khoát nước hăng hơn. Điều kỳ lạ là tiếng “cóc cóc” dần dần trầm xuống, biến thành âm “cum cum” gần giống tiếng mõ nơi đình làng. Bỗng trước mắt thầy đội hiện ra cảnh tượng làm thầy bỡ ngỡ tột độ, như thể hai chàng Lưu Nguyễn đã giã từ non tiên để trở về trần thế. Cảnh rừng tràm dày đặc, “cây chen vạn gốc” hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một vòm trời xán lạn. Hàng trăm mái nhà cất san sát, tạo thành một xóm lớn chưa hề được ghi nhận trên bất kỳ tấm bản đồ nào.

Qua điều tra, đây là nơi trú ngụ của một số người lén lút vào rừng xây nhà, phá rừng để bán củi lậu thuế đã ba năm trời mà nhà cầm quyền hoàn toàn không hay biết. Sau khi thương lượng, nhóm người này đã đồng ý hối lộ cho thầy đội X. một số tiền “trà nước” là hai ngàn đồng, một số vốn khá lớn vào thời bấy giờ. Nhờ khoản tiền này, thầy đội đã sắm được chiếc đò máy và đến năm sau, xin từ chức để dưỡng già. Câu chuyện này là bằng chứng rõ rệt cho lối sinh hoạt của một bộ phận người dân sống bằng nghề phá củi lậu thuế trong giai đoạn Pháp thuộc. Anh Tư Hưng, nhân vật chính của chúng ta, là một trong số họ.

Cuộc mưu sinh khắc nghiệt ở kinh Mười Lăm

Qui mô làm ăn của anh Tư Hưng nhỏ bé hơn nhiều so với xóm lớn kể trên. Anh được người bạn giới thiệu vào kinh Mười Lăm, nơi chỉ có năm gia đình sinh sống, bao gồm cả anh. Nhờ che đậy khéo léo bằng hình thức giăng câu bắt rắn, toán người này ít bị lính kiểm lâm chú ý.

Hừng sáng, họ rủ nhau vào rừng đốn củi. Nếu gặp cây nào to, ngay thẳng, họ hạ xuống, lột vỏ, ngâm bùn để chôn giấu, dùng làm cột nhà bán với giá cao hơn. Cứ mười bữa, họ lại cho người chở củi ra chợ Thới Bình giao cho vựa củi đã có giấy phép của nhà nước.

Con đường vận chuyển đầy gian nan. Nhiều khi họ phải trần truồng nhảy xuống bùn lầy, dùng sức đẩy xuồng củi xuyên qua rừng tràm dài đến năm ba cây số. Đêm tối tăm, họ phải nhìn hướng sao trời mà đi. Thỉnh thoảng đi lạc đường, họ đành quay về xóm cũ chờ đợi cơ hội khác. Mùa mưa thì việc đi lại tương đối dễ dàng nhờ có nước. Nhưng qua mùa khô hạn, muốn buôn bán lậu, họ phải vác củi đi qua những khu rừng nổi tiếng là nơi cư ngụ của rắn rít và cọp beo. Dần dần, sống trong hoàn cảnh như vậy, anh Tư Hưng ngày càng mến người, mến cảnh nơi đây.

Tình yêu nảy nở giữa tiệc tùng kỳ lạ

Khi bán được củi, nhóm người này sẽ chở về một xuồng đầy ắp gạo, đường, trà, vải vóc. Nếu bán được một bộ cột nhà, đó là phần thưởng lớn nhất. Họ mở tiệc ăn uống suốt ngày đêm, mời cả người ở xóm khác tới chung vui. Tư Hưng đặc biệt thích tham gia những cuộc tiệc tùng này, nơi những người đàn ông tráng kiện thách đố nhau bằng những màn ăn uống khủng khiếp.

Có anh Hai Đẹt từng nhậu ba lít rượu đế với ba yến khô cá sặc rằn. Có Bảy Vĩnh, người tháng trước đã ăn một lúc ba kí lô mỡ heo luộc chín, chấm muối ớt, sau đó còn đòi uống thêm bốn gáo nước lạnh. Lại có Tư Cần, đối thủ lợi hại của Bảy Vĩnh, người đã ăn bốn chục viên bánh xôi nước và một con vịt luộc. Bảy Vĩnh đáp lại thách thức bằng cách sẵn sàng ăn tám kí lô sầu riêng, loại trái khó kiếm ở Cà Mau, phải gởi tàu đò ra tận chợ Rạch Giá mua về. Ngày hôm sau, Bảy Vĩnh giữ lời hứa và ăn hết. Nhưng lạ thay, sau đó anh trợn trắng, mửa ra toàn sầu riêng, khiến mọi người phải một phen khó xử vì cái mùi “thơm béo” đặc trưng.

Tư Hưng không tham dự những cuộc tiêu khiển ăn uống này, không phải vì anh không có tài ăn nhiều như họ, mà vì anh muốn giữ thể diện để mưu cầu chuyện khác. Anh chú ý đặc biệt đến cô Một, người con gái thùy mị của ông Lão Bích.

Lão Bích là người đứng tuổi nhất trong xóm, thường được kính nể vì thạo chữ nho. Một lần, thấy lão đến chung vui, có người dùng chữ nho để cười cợt lão: “Tử viết thiện giả, có con không gả; tích thiện phùng thiện, để lâu sanh chuyện; tích ác phùng ác, để lâu tác hoác.” Lão Bích nâng tô rượu cười: “Tôi chỉ có mụn con gái nên phải kén rể ‘đông sàng’ cho kỹ lưỡng. Cậu nào biết văn chương mới mong được.” “Văn chương là thế nào?” – người nọ hỏi. Lão đáp: “Là biết hát đối. Đây tôi ra một câu, ai đối được tôi gả con gái cho: ‘Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời, thuở tạo thiên lập địa, ông trời do ai sanh?'”

Tư Hưng mừng rỡ vô cùng, sực nhớ hồi nhỏ anh từng nghe câu trả lời tương tự. Anh lập tức lên tiếng đối lại: “Nghe em hỏi tức, anh trả lời phức cho rồi, thuở tạo thiên lập địa, hai đứa mình chưa sanh!” Ai nấy vỗ tay hoan nghênh. Cô Một e thẹn, cắm đầu chạy về nhà.

Lời hẹn ước và sự thất bại

Từ đó, Tư Hưng và cô Một thường gặp nhau trò chuyện. Lão Bích khuyên anh nên nán lại một đôi năm, chờ khi việc làm ăn khấm khá hơn. Tư Hưng vui vẻ nhận lời. Hai người trẻ cùng nhau cố sức đốn củi để đi bán. Nhưng rủi thay, chuyến đó bị lính kiểm lâm bắt được, tịch thu luôn chiếc xuồng.

Buồn bực vô cùng, Lão Bích đã chạy mượn cho Tư Hưng một số vốn nhỏ để anh chuyển qua nghề buôn nồi đất. Nồi trác, cà ràng ở Hòn Đất giá rẻ, khi chở về Cần Thơ bán lại có thể lời gấp ba gấp tư. Nhưng họa vô đơn chí, vì chở quá cao nên khi ghe đến Cần Thơ thì bị sóng đánh chìm. Nghĩ rằng vận may đã quay lưng, Tư Hưng đành lên chợ Cần Thơ tìm anh em bạn quen để nhờ bảo lãnh mướn chiếc xe kéo mưu sinh. Không còn cách nào nhắn tin về cho gia đình Lão Bích, anh tự trấn an: “Năm xưa mình hứa một hai năm sau mới cưới cô Một. Chờ năm mười tháng nữa, mình dành dụm được chút tiền mọn rồi trở về rừng cũng không sợ thất hẹn.”

Gặp lại bóng trắng nơi kinh Mười Lăm hoang tàn

Một chiều tháng ba năm sau, như cánh chim gãy, Tư Hưng cùng một người bạn đồng hành từ Cần Thơ trở về kinh Mười Lăm thăm viếng Lão Bích và cô Một. Rừng tràm nơi đây không có mùa hạ hay mùa thu rõ rệt; mãn năm vẫn luôn xanh tươi, lấm tấm vài chiếc lá vàng sắp rụng. Hai người hối hả bơi xuồng vào ngọn kinh, lòng anh Tư khấp khởi mừng thầm. Nhưng dòng nước hôm nay có vẻ khác lạ: nó chảy lờ đờ, trong veo, không một miếng xác mía, một manh lá chuối trôi ra. Điều đó chứng tỏ không còn người nào sinh sống trong ngọn kinh này nữa.

Đến xóm cũ, hỡi ôi, ai nấy đều dời đi mất, chỉ còn sót lại vài căn nhà hoang xiêu vẹo, cách nền nhà Lão Bích chừng một công đất. Cây cỏ lạ lẫm. Căn nhà xưa đã đóng cửa. Anh Tư đoán rằng gia đình Lão Bích đã chuyển đi nơi khác. Mặt trời sắp lặn sau rừng, không còn đủ thời gian để anh buồn tủi. Người bạn nóng lòng đòi trở ra sông Cái, nhưng không kịp. Thôi đành đi sâu vào rừng, tìm nơi đất trống, có củi mục để đốt ngừa rắn rít, cọp beo. Tư Hưng khuyên bạn nên vào sát bìa rừng để giấc ngủ được bảo đảm hơn. Cách đó không xa, đúng như anh ao ước, có một đống củi lớn, chắc là của ai đó đốn lậu chưa kịp vận chuyển đi. Hai người trải nóp ra, hút thuốc. Chập sau vì quá mệt mỏi, họ chui vào nóp ngủ say.

Bóng ma và lời giải đáp đau đớn

Một tiếng hú lớn khiến cây cối vang dội làm anh Tư giật mình. Hé nóp, trăng sáng vằng vặc, anh lắng tai tìm hiểu tiếng hú quái dị. Anh ngỡ đó là tiếng chim ụt. Nhưng kìa! Có bóng trắng thấp thoáng len lỏi vào rừng tràm, kèm theo tiếng cười rú lên: “Hả! Hả! Hả!” Lập tức, Tư Hưng gọi bạn: “Mầy! Mầy thức hay ngủ?” Bạn anh đáp lại bằng giọng run run: “Tao thức nãy giờ.” “Mầy nghe gì không?” Tư Hưng hỏi. “Nó hú, nó cười phải không? Chắc mình gặp con xà niên rồi.”

Tư Hưng quả quyết vùng đất ẩm thấp này không bao giờ có xà niên như ở vùng núi cao. Anh nhướng mắt lên, bóng trắng ban nãy đang lù lù tiến tới, hiện ra rõ rệt: Chắc chắn đó là một người con gái, bỏ tóc xõa dài, mình mẩy trắng ngần, tay cầm một món gì ngắn, lòng thòng tựa như cây phất trần. Anh buột miệng: “Ma… ma thiệt rồi! Mầy tỉnh trí không? Mầy nằm sát xuống coi chân nó có đụng đất không? Ma thì đi hổng chân khỏi mặt đất.” Bạn anh trả lời: “Tao coi kỹ nãy giờ rồi. Nó đi hổng mặt đất.”

Bóng trắng kia chỉ còn cách họ chừng một công đất, hai tay quơ lên rồi cười lớn. Trong lúc tâm trí đang bối rối cực độ, Tư Hưng nghe từ trong rừng có tiếng hú thứ hai đáp lại: “Hú… Hú…” Anh ra lệnh cho bạn cùng tẩu thoát, cuốn nóp thật gấp, sợ bóng ma nhìn thấy dấu người mà truy nã theo. Họ núp trong bụi rậm, thủ sẵn khúc tràm ngắn để tự vệ. Bóng trắng nọ – một cô phụ nữ – ngồi xuống đống tràm nơi hai người vừa ngủ. Cô ta vẻ giận dữ, đôi tay cấu xé vào đống củi nghe rột rột. Chập sau, ông lão hiện tới, mặc áo ngắn, quần đùi đen. Tư Hưng đứng dậy, nắm tay bạn toan chạy: “Phải chạy mau!” Bạn anh cãi lại: “Để tôi ăn thua với nó…”

Bỗng ông lão đứng ngoài đống tràm la lớn: “Ai đó? Bà con nào đó? Phải mầy đó không Tư Hưng? Tao là Hai Bích đây…” Nhờ tiếng gọi ấy, anh Tư nhận ra “bóng ma” nọ chính là cô Một, người hứa hôn với anh ngày nào. Lão Bích cho biết thêm, giọng mếu máo: “Bây giờ nó điên rồi. Mầy đi vài tháng nó mang thai. Nó chờ mầy về, chờ hoài. Rồi nó đẻ trong rừng, không ai làm mụ bà. Tao làm mụ cho nó… Mầy tưởng tượng cái cảnh não nề. Con mầy chết non. Kiểm lâm vô đây với hương quản để bắt củi xét thuế thân. Xóm mình tản lạc, tao với vợ mầy phải chạy vô trong nầy. Mầy coi vợ mầy không thèm bận quần áo nữa mà có bận thì cũng không mua nổi. Nó khóc, nó cười, nó chửi tao. Ban đêm muỗi mòng quá, nó cầm cây xơ quất này đập muỗi. Nó điên vì tình, vì đời…”

Anh Tư Hưng khóc không ra nước mắt. Anh cũng không còn mặt mũi nào để nhìn mặt cô Một ngày xưa. Chắc chắn là anh đã không thể cưới cô Một. Năm sau, có người gặp anh chạy xích lô ở Sài Gòn. Hỏi anh về vấn đề vợ con, anh đáp gọn lỏn: “Khổ quá. Tôi bây giờ là thằng khùng. Vợ con gì…”

Tư Hưng: Bi kịch tình yêu nơi rừng củi lậu Cà Mau

Posted in Truyện Sơn Nam

Bài tham khảo