Menu Đóng

Sức sống mãnh liệt của những điệu lý, dân ca Nam Bộ

Bức ảnh phong cách sepia vintage mô tả cảnh sinh hoạt và hát lý của người dân Nam Bộ xưa.

Trên khắp dải đất hình chữ S, mỗi vùng miền đều tự định hình nên những làn điệu dân ca trữ tình, ngọt ngào và đầy quyến rũ, tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo. Nhiều thể loại đã trở thành biểu tượng khu vực, như hát ả đào, quan họ hay hò lờ, song công thức chung và phổ quát nhất từng được đúc kết qua câu tục ngữ danh tiếng: “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Đây không chỉ là phân định địa lý mà còn là sự thừa nhận giá trị nghệ thuật đặc trưng của mỗi vùng.

Nam lý, Bắc thơ, Huế hò: Sự định vị văn hóa

Để làm rõ hơn ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ này, học giả Trương Vĩnh Ký đã giải thích cặn kẽ trong cuốn “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” xuất bản năm 1886: “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”. Cần hiểu rằng, khái niệm “hát” ở đây không chỉ hình thức diễn xướng sân khấu như hát bội hay cải lương, mà đích thực là một thể loại dân ca đặc thù của những người dân lao động chân chất. Hát lý đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân ta từ hàng nghìn năm, biểu trưng cho tinh thần lạc quan và sức sống mãnh liệt của dân tộc.

Chính sự gắn bó sâu sắc này mà khi xua quân xâm lược Việt Nam, vua Minh Thành Tổ đã ban chỉ dụ khắc nghiệt nhằm tiêu diệt tận gốc văn hóa bản địa, ra lệnh đốt sạch mọi sách vở, văn tự, “cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết” (đạo dụ ngày 21 tháng 8 năm 1406). Không đầy chín tháng sau, vào ngày 16 tháng 5 năm 1407, Minh Thành Tổ phải nhắc lại chỉ dụ trước, quở trách tướng sĩ vì đã không triệt để thi hành. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Bất chấp mọi âm mưu hủy diệt, giọng lý vẫn được nhân dân gìn giữ, tôn vinh và cất cao lên khắp các thôn làng sau khi đất nước độc lập. Người dân hát lý ở mọi nơi, trong mọi sinh hoạt: khi làm đồng, lúc chèo ghe, nghỉ ngơi trên cánh võng hay trong các cuộc hội hè, tết nhất. Ở miền Nam, lý từng được các nghệ nhân xếp hàng đầu trong các điệu hát dân gian: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam nam, tức oán…”.

Đặc trưng nghệ thuật và vai trò của hư từ

Lý mang đậm tính chất quê mùa, mộc mạc. Ca từ của nó chính là những câu phong dao, ca dao giản dị, được đệm lót thêm bằng một số nhóm từ hoặc cụm từ thường được gọi là “hư từ”. Tuy những hư từ này có vẻ sáo rỗng hay vô nghĩa trong ngôn ngữ thường ngày, chúng lại đóng vai trò tối quan trọng trong cấu trúc âm nhạc. Chúng giúp người hát ngâm nga, đẩy đưa làn hơi, tạo nhịp điệu. Đồng thời, nghệ nhân còn khéo léo chèn thêm những tiếng láy, điệp ngữ (chính là điệp khúc) làm cho tiết điệu trở nên mượt mà, khúc chiết hơn, có thể chuyển tải cảm xúc từ tình tứ thiết tha, buồn thảm não nùng cho đến nhẹ nhàng phấn khởi.

Lý dễ dàng đi vào lòng người bình dân nhờ đề tài phong phú, phản ánh mọi hiện tượng sinh hoạt đời thường, bày tỏ những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống. Ca từ giản dị, tươi vui và dí dỏm giúp điệu lý được người nghe đón nhận nồng nhiệt.

Trong “Đại Nam quốc âm tự vị” (1895), Huỳnh Tịnh Của đã phân biệt rõ hai khái niệm liên quan đến điệu lý:

Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.

Lý hát: Vừa kể vừa hát, có mau có chậm (tức là “hát theo điệu ca ngâm”).

Sự đa dạng tuyệt vời của các điệu lý

Do gắn liền với “ca ngâm” muôn màu muôn vẻ, điệu lý vô cùng phong phú, đạt đến mức gần như mỗi bài là một điệu riêng biệt. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được xấp xỉ 160 bài lý. Con số này chắc chắn sẽ còn tăng lên nếu có thêm những chuyến điền dã chuyên sâu của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian.

Trong khẩu ngữ thông thường, dân gian ít phân biệt ca lý và hát lý, do đó ở khía cạnh này, hai khái niệm có thể được hiểu là một. Theo nghiên cứu của Lư Nhất Vũ và Lê Giang trong “Tìm hiểu dân ca Nam Bộ”, ông cha ta ở Nam Bộ (cũng như Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ) thường có ba cách chính để đặt tên cho các điệu lý:

  • Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: Lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu.
  • Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: Lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ.
  • Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: Lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh.

Ngoài ra, một số điệu lý còn được đặt tên dựa vào xuất xứ từ loại hình ca bóng rỗi (lý giọng bông); hoặc dựa vào đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc (lý bản đờn, lý cống chùa). Đôi khi, địa danh cũng được dùng để gọi tên điệu lý như lý Ba Tri, lý Cái Mơn, dù trường hợp này ít phổ biến. Việc phân loại chỉ mang tính tương đối vì có trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên khác nhau, và ngược lại. Sự “định danh” này không tránh khỏi tình trạng nhập nhằng cả về lượng và chất.

Lý con sáo: Điệu ca vượt không gian ba miền

Theo chiều dài lịch sử và tiến trình mở cõi, ca dao dân ca lan tỏa khắp nơi, chịu ảnh hưởng của hình thái địa lý, hoàn cảnh xã hội và đặc biệt là cách phát âm vùng miền. Do đó, điệu lý nói chung có sắc thái mang dấu ấn riêng, tạo nên sự khác biệt giữa dân ca ba miền. Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa đã làm biến hóa, co giãn âm điệu, thanh điệu và cả những tiếng đưa hơi, khiến làn điệu thêm phong phú và làm bật lên nét đặc thù của ngôn ngữ âm nhạc.

Ví dụ điển hình nhất là điệu lý con sáo, chỉ với hai câu ca dao gốc: “Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa,” các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã sơ bộ ghi nhận được tới 30 bài lý khác nhau. Trong số đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ (trong hát ghẹo), 3 bài lý con sáo Bắc (trong quan họ và hát trống quân), 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế và Nam Bình Trị Thiên, 2 bài lý con sáo Quảng vùng Nam Trung Bộ, và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ. Các chuyên gia âm nhạc nhận định rằng, trong lịch sử âm nhạc, hiếm có hiện tượng nào mà cùng một đề tài, xuất xứ từ hai câu ca dao lại sinh ra hàng chục làn điệu với sắc thái muôn màu muôn vẻ đến vậy.

Vì sao câu chuyện về “con sáo sang sông – con sáo sổ lồng – con sáo bay xa” lại được các nghệ nhân dân gian ưa chuộng đến thế? Ngoài sức cuốn hút của âm điệu, nội dung câu ca dao này đã phản ánh khát vọng trung tâm của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân: truyền thống đấu tranh bất khuất, không chấp nhận làm nô lệ, luôn tìm mọi cách để “sổ lồng”, “sang sông”, “bay xa” tìm đến chân trời hạnh phúc. Và bằng ý chí kiên cường, dân tộc Việt Nam đã thực hiện được điều đó.

Sự tôn vinh điệu lý trong đời sống hiện đại

Với hàng chục điệu lý như đã nói, đây là minh chứng rõ ràng cho tình cảm và cá tính của người Nam Bộ – biểu tượng cho sự hiên ngang, phóng khoáng. Tuy nhiên, nếu tinh tế quan sát, ta sẽ thấy sự tôn vinh điệu lý bật lên rất rõ ở mọi vùng miền. Nếu lý ngựa ô đã có cuộc hành trình khắp nước thì lý con sáo cũng là một bài lý thuộc loại dân ca ba miền tiêu biểu.

Ngày nay, các soạn giả thường dựa theo làn điệu lý để sáng tác lời mới, lồng ghép xen kẽ vào các bài vọng cổ, ca nhạc cải lương. Lý được yêu thích vì nó là một điệu thức quen thuộc, dễ ca, mang cả niềm vui và nỗi buồn nên dễ cảm nhận (dùng trong trường hợp vui thường dễ thành công hơn). Các điệu lý phổ biến trong sân khấu cải lương bao gồm lý con sáo, lý giao duyên, lý vọng phu, lý ngựa ô, lý Phước Kiến, lý thập tình.

Dưới đây là một vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc”, thể hiện sự khéo léo của nghệ nhân dân gian trong việc xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý và điệp ngữ để hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng tôi xin giới thiệu một số làn điệu bài lý con sáo:

Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng” và khoẻ khoắn:

  • Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông. Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa. Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).

Một bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu mượt mà, duyên dáng (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):

  • Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê). Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).

Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):

  • Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng. Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông. Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng. Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng. Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng. Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng. Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng. Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.

Quả thật, đúng như câu tục ngữ “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, hát lý từng được xem là thể loại dân ca trội bật ở miền Nam. Đặc biệt, ở Nam Bộ, hát lý có sức cuốn hút mãnh liệt, đến mức đã đi vào những câu ca dao hài hước, sinh động:

Con cua quậy ở dưới hang, Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên! (Lý con cua quầy)

Thông qua câu nói kinh điển “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, ta thấy rõ rằng Nam Bộ không chỉ kế thừa nguồn vốn văn hóa cổ truyền phong phú từ miền Bắc mà còn phát triển nó một cách mạnh mẽ, tạo nên những giá trị nghệ thuật độc đáo, góp phần làm tôn vinh vốn quý chung của dân tộc.

Hát Lý: Điệu dân ca Nam Bộ và sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt.

Posted in Nghệ thuật

Bài tham khảo