Menu Đóng

Rừng tràm rạch Thứ Sáu

Bản phác thảo than chì mô tả cảnh những người thợ rừng đang làm việc vất vả giữa rừng tràm Rạch Thứ Sáu vào buổi sớm.

Giữa bạt ngàn rừng tràm rạch Thứ Sáu, những thân phận lưu lạc từ khắp nẻo miền Tây tụ hội về đây dưới nhịp búa đập vang trời. Cuộc mưu sinh đầy rẫy nhọc nhằn và hiểm nguy nơi rừng thiêng nước độc nhưng vẫn lấp lánh tình người cùng niềm hy vọng thầm kín về một mái ấm tương lai. Câu chuyện về những tay rìu khai phá không chỉ là bản hùng ca lao động mà còn chứa đựng nỗi niềm u uất trước ách áp bức của thực dân.

Cuộc viễn chinh của những tay rìu

Trời vừa hừng sáng, cả khu rừng đã bắt đầu huyên náo bởi những âm thanh chát chúa của công cuộc khai phá. Từ sáu tháng nay, trước sự xâm chiếm của lớp người mang danh tay rìu, bao nhiêu chim cò, rắn rít, khỉ chồn và heo rừng đã phải nhượng bộ, rút lui sâu vào những vùng hoang dã chưa dấu chân người. Những người thợ rừng này chia thành từng nhóm nhỏ, tiến hành khai thác dọc ngang dưới sự điều khiển nghiêm ngặt của các cặp rằng. Đứng đầu toàn bộ hệ thống này là ông chủ đường, người nắm giữ quyền sinh sát tại khu vực con kinh lớn, nơi tập trung toàn bộ số củi đã được cưa sẵn thành từng khúc theo quy cách hai tấc rưỡi hoặc một thước.

Để sở hữu được một đường củi như thế, chủ đường phải là người có thế lực rất lớn đối với chính quyền thực dân thời bấy giờ. Họ tham gia đấu giá các lô rừng cúp – loại rừng mà nhà nước cho phép khai thác định kỳ mỗi hai mươi hoặc hai mươi lăm năm một lần. Sau khi giành được quyền khai thác, việc cấp bách nhất là chiêu mộ nhân công từ các tỉnh Cần Thơ, Hà Tiên, Long Xuyên kéo xuống tận rạch Thứ Sáu thuộc làng Đông Thái, tỉnh Rạch Giá. Chỉ có đội ngũ nhân công đông đảo mới mong hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ đúng thời hạn đã cam kết với nhà chức trách Pháp.

Nỗi niềm của người thợ rừng lưu lạc

Anh Tư Bình Thủy giật mình thức giấc, vứt nóp ngồi dậy trong căn chòi tạm bợ. Anh nhìn cánh rừng mịt mù sương sớm, nhìn dòng nước chảy mà lòng đầy ưu phiền, định nằm xuống ngủ tiếp để quên đi thực tại nhưng tâm trí cứ quẩn quanh với những món nợ chưa trả xong. Anh thầm nghĩ nếu cứ gắng gượng thế này, chẳng mấy chốc sẽ lao lực mà sinh bệnh tim, bệnh phổi thì coi như khốn khổ cả đời. Tiếng búa bổ vào gốc tràm bắt đầu vang lên dồn dập, nhịp nhàng nhưng mang theo vẻ khô khốc còn hơn cả tiếng mõ tụng kinh nơi cửa Phật. Từng thân cây ngã xuống đùng đùng làm chao đảo mặt nước, sóng vỗ vào vách chòi lách chách như tiếng lòng thổn thức của những kẻ tha hương.

Để vơi bớt mệt nhọc, các tay rìu bắt đầu bàn tán chuyện xưa tích cũ. Giọng anh Hai Cờ Đỏ vang lên sang sảng kể về tích vua Gia Long từng trốn chạy quân Tây Sơn qua vùng đất này. Với tờ giấy chứng nhận của hãng Tây mạnh hơn cả giấy thuế thân, anh chẳng ngại bất kỳ thầy hương quản nào. Hai Cờ Đỏ kể lại lời sấm truyền của vị vua xưa về địa lý phương Nam, nơi không có núi cao sông sâu nhưng nghề phá sơn lâm, đâm Hà Bá lại vô cùng khắc nghiệt. Những câu chữ nho khó hiểu được anh giải thích cặn kẽ về kiếp nghèo mạt của những người chọn rừng làm kế sinh nhai, khiến ai nấy đều bùi ngùi suy ngẫm cho phận mình.

Tình người ấm áp giữa chốn bùn lầy

Khi nghe nhắc đến tên ông Tư Châu Xương, anh Tư Bình Thủy chợt bừng tỉnh hẳn. Ông Tư dù vẻ ngoài đen ngăm, mặt mày hung tợn nhưng tâm địa lại vô cùng hiền hậu và tử tế. Chính ông đã bảo con gái mình là cô Mịn sang chăm sóc, nấu cháo và cho tiền mua thuốc khi anh bị những cơn sốt rét rừng hành hạ. Cô Mịn, dù nước da đen đúa vì nắng gió nhưng lại mang nét duyên dáng thầm lặng. Những đêm un muỗi ngồi tâm tình, điếu thuốc rê do cô đốt giúp đã trở thành hương vị ngon nhất mà anh từng được nếm trải. Đôi mắt đen lấp lánh của Mịn như những vì sao soi sáng tâm hồn anh giữa bóng tối mịt mùng của rừng sâu.

Ông Tư Châu Xương tiếp nối câu chuyện bằng giai thoại về việc thực dân Pháp đánh chiếm thành Long Hồ. Qua lời kể đầy màu sắc dân gian, ông giải thích về biểu tượng mỏ neo và hình người đàn bà trên đồng bạc trắng, đề cao vai trò của sự gắn kết và tinh thần tương trợ. Ông quan niệm rằng ở đời, đôi khi những rủi ro bất ngờ lại chính là cơ hội để con người đổi thay số phận. Câu chuyện của ông không chỉ mang tính giải khuây mà còn là lời động viên ngầm cho những người thợ rừng đang oằn mình dưới sức ép của đồng tiền và sự bóc lột.

Sự phản kháng và niềm hy vọng thầm kín

Không gian yên bình bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của cặp rằng Be, một kẻ hống hách và hèn hạ dưới trướng thực dân. Hắn buông lời mỉa mai những vần thơ Lục Vân Tiên mà Tư Bình Thủy đang đọc, thậm chí còn dùng những lời lẽ tục tĩu để xúc phạm cô Mịn. Sự phẫn nộ bùng lên, anh Tư Bình Thủy cầm búa định ăn thua đủ với kẻ cậy thế làm càn. Anh vạch trần bộ mặt thật của tên cặp rằng, kẻ đã lừa gạt dân nghèo về một cuộc sống sung túc để rồi đẩy họ vào cảnh nợ nần, cờ bạc và bóc lột đến tận cùng mồ hôi nước mắt.

Khi tên cặp rằng hèn nhát rút lui, ông Tư Châu Xương ôn tồn khuyên nhủ anh Tư. Ông nhắc lại rằng trăm sự cũng bởi đồng tiền bát gạo, ngay cả ông Tiều trong thơ xưa cũng chẳng lúc nào được thong dong tâm trí vì gánh nặng mưu sinh. Tuy nhiên, giữa nghịch cảnh, họ vẫn nhen nhóm một kế hoạch đầy táo bạo: âm thầm đốn hạ những cây gỗ tốt, nhận lấp dưới sình để chuẩn bị dựng một cái sườn nhà sau này. Đó là cách họ ăn cắp của Tây để tự tạo dựng tương lai cho chính mình. Ánh mắt Tư Bình Thủy nhìn cô Mịn đầy thẹn thùng nhưng tràn trề hy vọng, hứa hẹn một mái ấm sẽ mọc lên khi cuộc phá sơn lâm này kết thúc.

Sơn Nam

Posted in Truyện Sơn Nam

Bài tham khảo