Menu Đóng

Kinh nghiệm và tri thức dân gian lưu dân Việt ở U Minh

Ảnh sepia vintage chụp một người mặc áo bà ba đang chèo xuồng qua kênh rạch chằng chịt trong rừng tràm U Minh.

Vùng U Minh, nơi rừng tràm ngập nước đặc trưng ở Tây Nam Bộ, mang dấu ấn lịch sử khai mở muộn màng cùng nền văn hóa dân cư đặc thù. Tri thức dân gian (TTDG) của người Việt nơi đây không chỉ là sự hiểu biết về thiên nhiên mà còn là kinh nghiệm sinh tồn quý giá. Bộ kinh nghiệm này đã được đúc kết, trao truyền qua nhiều thế hệ, định hình cách ứng xử của họ với môi trường khắc nghiệt để thỏa mãn bốn nhu cầu thiết yếu: ăn, ở, mặc và đi lại.

“U Minh, Rạch Giá thị hóa sơn trường
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”

Môi trường sống đặc biệt định hình thái độ ứng xử với tự nhiên

Trong hành trình mở cõi về phương Nam, người Việt đã mang theo vốn văn hóa truyền thống từ vùng châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên, khi đặt chân đến U Minh – vùng đất rừng tràm trầm thủy, cảnh quan nguyên thủy và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã buộc họ phải có sự điều chỉnh mạnh mẽ. Để có thể bám trụ, cư dân tiên phong đã nhanh chóng tìm ra phương thức ứng xử linh hoạt, thiết lập mối quan hệ hữu cơ mật thiết với thiên nhiên, nơi mà sự tương tác giữa con người và môi trường quyết định trực tiếp đến sự sống còn.

U Minh trong ký ức dân gian hiện lên đầy hoang dã và hiểm nguy, như câu ca dao đã mô tả: “U Minh, Rạch Giá thị hóa sơn trường / Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Bối cảnh này yêu cầu cộng đồng lưu dân ban đầu phải chuyển đổi tư duy từ chỗ hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên sang chủ động khám phá, khai thác và biến đổi môi trường để thích nghi. Chính từ những ngày đầu chinh phục, vốn kinh nghiệm sinh tồn quý giá đã được tích lũy, bảo tồn và lưu truyền, trở thành kho tàng tri thức nền tảng của cư dân địa phương.

Sắc thái sông nước đặc thù, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, rừng rậm và đồng trũng của U Minh đã tạo nên một bản sắc văn hóa riêng biệt. Để tồn tại và phát triển trong môi trường này, lưu dân người Việt phải nỗ lực đáp ứng bốn nhu cầu cơ bản: ăn, ở, mặc, và đi lại. Quá trình khám phá và khai thác tài nguyên thiên nhiên (TNTN) để đáp ứng các nhu cầu ấy đã tạo ra một hệ thống kinh nghiệm phong phú. Họ không chỉ hiểu về thiên nhiên bên ngoài mà còn vận dụng tri thức để đảm bảo cơ thể có thể thích ứng và phát triển khỏe mạnh trong điều kiện mới.

Do tính chất là vùng đất mới được khai mở từ môi trường hoang dã, sự liên kết cộng đồng là yếu tố sống còn. Quá trình khai thác đi đôi với việc thiết lập các mối quan hệ xã hội nhằm quản lý, cùng nhau khai thác, hưởng lợi và bảo tồn nguồn tài nguyên. Những hoạt động ứng xử với tự nhiên và cách thức quản lý cộng đồng này chính là giá trị văn hóa do con người sáng tạo, là nguồn gốc sâu xa hình thành nên tri thức dân gian của người Việt vùng U Minh. Vì lẽ đó, cách ứng xử với môi trường tự nhiên tại U Minh là biểu hiện rõ nét nhất của những giá trị văn hóa được đúc kết qua hàng trăm năm, thấm sâu vào nếp sống của họ.

Dù đóng vai trò chủ động trong quá trình khám phá và chinh phục, người dân U Minh vẫn phải đối mặt với những tác động ngược chiều của thiên nhiên, đặc biệt khi việc khai thác TNTN trở nên quá mức, cố tình làm thay đổi quy trình vận động tự nhiên. Suốt hơn 300 năm định cư, kinh nghiệm về môi trường sống đã được ứng dụng sâu rộng vào đời sống vật chất, từ đó định hình nên tri thức và tính cách riêng biệt của người Việt vùng U Minh. Đó chính là sản phẩm văn hóa độc đáo được kiến tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống cũ tại vùng đất mới.

Quá trình hình thành và phát triển hệ thống tri thức dân gian U Minh

Cộng đồng dân cư U Minh là kết quả của một quá trình cộng cư lâu dài, đấu tranh kiên cường với thiên nhiên để sinh tồn. Các lưu dân Việt Nam, dù tha phương cầu thực, vẫn giữ vững tình đồng bào, quần tụ và tương trợ, sống thành làng mạc. U Minh là vùng đất đa văn hóa, với sự hiện diện của người Việt, người Hoa, người Khmer, và cả người Mã Lai. Do chính sách cai trị thời Nguyễn còn lỏng lẻo, các dân tộc này có cơ hội tự do phát triển mà ít xảy ra sự đối kháng về văn hóa hay lợi ích xã hội.

Quá trình hình thành dân cư đồng thời là quá trình cùng nhau chinh phục thiên nhiên. Họ phải đối mặt với hiểm nguy, chấp nhận trả giá bằng chính cuộc sống để có được sự nhận thức sâu sắc về môi trường, thực hiện mục tiêu “phá sơn lâm, đâm hà bá”. Để tồn tại, họ buộc phải đoàn kết, tương trợ lẫn nhau và học hỏi từ các tộc người cộng cư. Sự hòa đồng văn hóa thể hiện rõ nét, khi không có sự phân biệt “độc quyền” về nghề nghiệp hay hoạt động sinh hoạt tinh thần giữa các dân tộc trên vùng đất này.

Tri thức dân gian U Minh được hình thành rõ rệt qua bốn lĩnh vực vật chất thiết yếu, phản ánh trực tiếp mối quan hệ ứng xử với môi trường sống.

1. Nhu cầu ăn uống và ẩm thực:

Nhu cầu ăn để tồn tại chủ yếu dựa vào kinh nghiệm khai thác nguồn thực phẩm tự nhiên, cách thức chế biến món ăn và sự thích ứng với điều kiện môi trường để tạo ra cái ăn. Trải qua nhiều thế hệ, người Việt vùng U Minh đã đúc kết kinh nghiệm làm sao để vừa tạo ra nguồn thực phẩm dồi dào, vừa phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù. Tri thức đó được vận dụng cụ thể trong từng món ăn, từng gia đình, tạo nên nét riêng trong văn hóa ẩm thực, minh chứng rõ ràng nhất cho cách con người ứng xử với thiên nhiên U Minh.

2. Trang phục và nhu cầu mặc:

Mặc là nhu cầu dễ tiếp nhận và biến đổi nhất trong các nhu cầu vật chất. Tính thích ứng với môi trường tự nhiên và sự tiện dụng luôn được đặt lên hàng đầu. Do tính cách phóng khoáng, ưa sự giản tiện, nhu cầu mặc ở U Minh tương đối đơn giản, không cầu kỳ kiểu cách như các vùng khác. Trang phục người Việt vùng U Minh cơ bản giống các vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ nhưng đã được cải biên nhanh chóng, từ kiểu trang phục bốn mùa thành loại trang phục mùa hè duy nhất, nhanh chóng biến đổi theo thị hiếu thời đại. Vấn đề tìm kiếm nguyên vật liệu ít được quan tâm do hầu hết không sản xuất tại chỗ.

3. Nơi ở và kiến trúc nhà cửa:

Vấn đề nhà ở là làm thế nào để kiến trúc nhà cửa thích ứng được với môi trường tự nhiên khắc nghiệt và khai thác TNTN để phục vụ việc xây dựng. Vùng U Minh, với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, đã tạo nên sắc thái kiến trúc nhà ở mang đặc thù sông nước nhiều hơn yếu tố đồng bằng.

Hoạt động khai thác TNTN để xây cất nhà cửa có ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái. Tri thức về việc khai thác thế nào, lúc nào, ở đâu và bảo vệ nguồn lợi này ra sao là kho tàng kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều đời, tác động sâu sắc đến môi trường sống hiện nay.

4. Đi lại và phương tiện giao thông:

Giao thông vùng U Minh chủ yếu là đường thủy. Việc hiểu biết đặc điểm địa hình mạng lưới sông nước là cốt lõi để tạo ra phương tiện đi lại thích nghi. Lưu dân đã sớm vận dụng và sáng tạo các loại ghe, xuồng phù hợp với địa hình để phục vụ đời sống vật chất (ĐSVC). Nhiều loại hình ghe, xuồng mới được cải biên và sáng chế, từ những phương tiện truyền thống cho đến việc tiếp nhận sản phẩm khoa học kỹ thuật hiện đại, điển hình là chiếc xuồng ba lá và chiếc vỏ tắc ráng.

Kho tàng tri thức dân gian này của người Việt được xây dựng trên cơ sở giải quyết ba mối quan hệ cốt yếu:

  • Giữa vốn tri thức truyền thống mang theo trong tiềm thức với môi trường tự nhiên và điều kiện xã hội mới.
  • Giữa vốn tri thức mang đặc thù văn hóa tộc người Việt với tri thức của hai tộc người cộng cư Khmer và Hoa.
  • Giữa tri thức truyền thống tại địa phương với tri thức hiện đại.

Trong giai đoạn đầu, người Việt vùng U Minh sống dựa vào TNTN nhưng không hoàn toàn phụ thuộc. Họ khai thác tài nguyên và ứng xử với môi trường tự nhiên ở vị thế chủ động, với đầy đủ tri thức để sống hòa đồng, khai thác nguồn lợi phục vụ sinh tồn và phát triển. Vốn hiểu biết của họ được đúc kết bằng mồ hôi, xương máu và sức lao động của nhiều thế hệ, luôn hàm chứa tính thực dụng, giản tiện theo lối tư duy cư dân nông nghiệp pha trộn sắc thái sông nước phóng khoáng.

Tuy nhiên, cùng với tốc độ khai hoang nhanh chóng, đặc biệt từ thế kỷ XX, diện tích rừng tràm đã giảm mạnh (từ chỗ gần như bao trùm cả Tây Nam Bộ, đến nay chỉ còn 1,45%). Đất rừng nhường chỗ cho đất nông nghiệp, đô thị hóa và cơ sở hạ tầng. Sự biến đổi nhanh chóng của môi trường sống này là nguyên nhân chính làm biến đổi về bản chất hệ thống tri thức dân gian U Minh. Tính tích cực và tiêu cực của việc ứng dụng tri thức này biểu hiện rất rõ trong quá trình chinh phục thiên nhiên, khiến nhiều phần tri thức cũ mai một, thay đổi hoàn toàn, hoặc biến mất khỏi đời sống cộng đồng.

Đặc trưng của tri thức dân gian người Việt vùng U Minh

Thuật ngữ chỉ sự hiểu biết của người dân địa phương về nơi sinh sống rất đa dạng, bao gồm “tri thức dân gian”, “kiến thức bản địa”, “kiến thức truyền thống”. Các khái niệm này có nhiều điểm tương đồng như: mang tính địa phương, truyền thống, bản địa trong một khu vực cụ thể; là tri thức không chính thức, được truyền miệng, không ghi chép dưới dạng văn bản; có tính biến đổi và thích nghi, gắn liền mật thiết với sự sống còn của cộng đồng.

Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, cần phân biệt tri thức dân gian với tri thức bác học (chuyên nghiệp), tri thức địa phương với tri thức phổ thông, tri thức bản địa với tri thức phương Tây (hiện đại). Tuy nhiên, với người dân U Minh, khái niệm “tri thức dân gian” vẫn được lựa chọn vì nó bao quát được tổng thể bản chất của sự hiểu biết được trao truyền trong cộng đồng.

Cần nhấn mạnh rằng, Nam Bộ là vùng đất mới với lịch sử hơn 300 năm, do đó, các tộc người sinh sống ở đây, bao gồm cả người Việt, đều là lưu dân chứ không phải cư dân bản địa. Chính điều kiện lịch sử hình thành dân cư khác biệt này đã tạo nên đặc trưng văn hóa riêng của người Việt vùng Nam Bộ nói chung và U Minh nói riêng. Sự khác biệt này hình thành từ hai yếu tố cơ bản: tác động của cảnh quan môi trường sống mới và cộng đồng dân cư mới mang tính đa văn hóa.

Tri thức dân gian về môi trường tự nhiên của người Việt vùng U Minh thể hiện rất rõ qua bốn yếu tố vật chất căn bản (ăn, ở, mặc, đi lại). Nếu xét về góc độ người chủ của nguồn tri thức, có thể thấy rõ “tính bản địa” không hiện diện ở vùng đất mới này, mà thay vào đó là tính “lưu dân” và khả năng chuyển đổi tri thức một cách linh hoạt. Tri thức dân gian U Minh là sự kết hợp hài hòa giữa vốn văn hóa truyền thống của người Việt, tri thức của các dân tộc cộng cư (Khmer, Hoa), và quan trọng nhất là phương thức thực hiện đã được chuyển đổi để phù hợp tối đa với môi trường tự nhiên.

Sự hiểu biết này được ứng dụng một cách linh hoạt, nhằm thỏa mãn trước tiên các nhu cầu vật chất, sau đó mới đến nhu cầu tinh thần. Đây chính là thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên, thể hiện mối quan hệ hai chiều giữa chủ thể sáng tạo (con người) và khách thể (thiên nhiên). Dù con người luôn nỗ lực đứng trên thế giới quan của chủ thể để khai thác thiên nhiên, họ vẫn không thể tách rời khỏi môi trường và phải chịu sự tác động ngược chiều từ chính cách ứng xử của mình.

Từ những phân tích và nghiên cứu thực địa, có thể đưa ra kết luận: “Tri thức dân gian của người Việt vùng U Minh là tổng thể sự hiểu biết mang tính trao truyền qua truyền khẩu của người dân sinh sống trên địa bàn (không mang tính bản địa) về tự nhiên, xã hội và bản thân. Sự hiểu biết này luôn vận động biến đổi theo quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được vận dụng phục vụ trực tiếp cho đời sống vật chất của người dân”.

Tóm lại, quá trình khám phá, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chính là quá trình sáng tạo, đúc kết kinh nghiệm, tạo thành kho tàng tri thức chung và trao truyền cho thế hệ kế thừa, mà tri thức dân gian của người Việt vùng U Minh cũng nằm trong quy luật vận động đó.

Tổng kết

Trong quá trình Nam tiến, qua hơn 300 năm khai hoang mở đất, lưu dân người Việt đã vận dụng và biến đổi vốn tri thức truyền thống của mình để thích nghi và tồn tại trong môi trường sống đặc biệt của vùng rừng trầm thủy U Minh. Với bản tính linh hoạt và tư duy thực tế, họ đã kết hợp hài hòa vốn tri thức bản thân cùng những kinh nghiệm có lợi từ hai dân tộc cộng cư Khmer và Hoa, tạo nên kho tàng tri thức riêng biệt.

Hệ thống tri thức dân gian này được hình thành xoay quanh bốn lĩnh vực cơ bản của đời sống vật chất là ăn, mặc, ở, đi lại. Tuy nhiên, song song với quá trình khai phá văn hóa, tài nguyên thiên nhiên của vùng U Minh đã bị khai thác đến mức cạn kiệt, kéo theo sự đô thị hóa nhanh chóng làm biến đổi sâu sắc đời sống văn hóa xã hội truyền thống. Sự thay đổi chóng mặt của môi trường sống chính là nguyên nhân cơ bản khiến kho tàng tri thức dân gian của người Việt vùng U Minh về ứng xử với tự nhiên đang dần đứng trước nguy cơ mai một và biến mất.

Tham khảo tư liệu và các công trình nghiên cứu về U Minh

Các tài liệu và công trình nghiên cứu về vùng U Minh đã thu thập được chủ yếu tập trung vào lịch sử hình thành dân cư, dân tộc, địa lý, khí hậu thủy văn, tài nguyên động thực vật, nếp sống và tín ngưỡng. Trước năm 1945, nhiều học giả triều Nguyễn và thời Pháp thuộc đã đề cập đến vùng đất Kiên Giang (trấn Hà Tiên xưa) qua các tác phẩm như Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, Đại Nam thực lục chánh biên, Quốc triều chánh biên toát yếu, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, hay Hà Tiên hiệp trấn – Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh. Đặc biệt, Đại Nam nhất thống chí có riêng một phần về trấn Hà Tiên. Những sử liệu này có giá trị lớn nhưng chỉ khái lược về đất nước, con người và văn hóa U Minh.

Trong giai đoạn 1945–1975, một số sách nghiên cứu về Nam Bộ đã đề cập đến Hà Tiên xưa, bao gồm Vịnh Thái Lan của Sơn Hồng Đức, Người Việt gốc Miên, Sử liệu Phù Nam của Lê Hương, cùng các tài liệu hành chính và Hà Tiên địa phương chí. Nội dung của các tài liệu này cũng chỉ mang tính khái quát chung về đặc điểm địa lý, dân cư, dân tộc hoặc một mảng văn hóa, văn học của cộng đồng cư dân tỉnh Hà Tiên, Rạch Giá, trong đó U Minh được nhắc đến ở mức độ tổng quan.

Từ năm 1975 đến nay, các tài liệu về Tây Nam Bộ trở nên phong phú hơn, như Văn hóa dân gian Nam bộ, những phát thảo của Nguyễn Phương Thảo, Nam bộ xưa và nay của nhiều tác giả, Mục Hà Tiên – Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu, Tìm hiểu Kiên Giang của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Kiên Giang, hay các công trình gần đây như U Minh dấu ấn và cảm thức, Rừng U Minh kỳ vĩ của Phan Thanh Nhàn. Bên cạnh đó, các luận văn cao học như Ứng xử văn hóa trong khai thác môi trường tự nhiên ở Cà Mau của Vưu Nghị Lực và Ẩm thực người Việt vùng U Minh của Nguyễn Diệp Mai đã đi sâu vào khía cạnh văn hóa dân gian. Tuy nhiên, các công trình này vẫn còn khiêm tốn, chỉ tập trung vào một vài khía cạnh đơn lẻ về ẩm thực, nơi ở, trang phục hay khai thác tài nguyên.

Một số công trình nghiên cứu tổng hợp về môi trường sinh thái đã cung cấp những thông tin quan trọng giúp nhận diện đặc điểm về địa lý và môi trường tự nhiên (MTTN) của U Minh. Các số liệu thống kê so sánh cho thấy địa giới của rừng U Minh đã thay đổi nhanh chóng, cùng với tốc độ khai hoang trong gần một thế kỷ đã làm biến đổi nhanh chóng đời sống của cộng đồng dân cư. Chính những thay đổi trong môi trường tự nhiên này đã hình thành và làm thay đổi cách thức sinh hoạt, tư duy và mô hình cộng đồng dân cư trên vùng đất U Minh, giải thích tương đối chính xác về những dạng địa hình đặc thù và phương tiện sinh hoạt của người dân địa phương.

Tri thức dân gian người Việt ở U Minh: Kinh nghiệm sinh tồn

Posted in Dân gian

Bài tham khảo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *