Làng xã ở Đồng bằng sông Cửu Long là một bức tranh văn hóa đa sắc, dù vẫn giữ lại những tập quán cơ bản của làng xã Việt Nam truyền thống nhưng đã tự biến đổi để thích nghi với vùng đất mới. Khác biệt rõ rệt so với sự khép kín của đồng bằng sông Hồng, tính cách mở là đặc điểm nổi trội, được kiến tạo từ địa hình sông nước mênh mông và dòng chảy lịch sử đầy biến động của quá trình khẩn hoang, lập nghiệp.
Cấu trúc mở của làng xã Đồng bằng sông Cửu Long
Cấu trúc làng xã miền Tây Nam Bộ là một bộ phận hài hòa trong tổng thể làng xã Việt Nam, song, càng tiến về phương Nam, những đặc tính bán tự trị, bán tự cấp thuở ban đầu càng nhạt dần, thay vào đó là sự hình thành của những giá trị mới. Khác biệt cơ bản nhất, và cũng là đặc trưng nổi bật, chính là tính cách mở. Nếu làng xã cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng thường được bao bọc bởi lũy tre xanh dày đặc, tạo nên sự khép kín tương đối thì không gian sống ở ĐBSCL lại được thiết lập dựa trên địa hình tự nhiên sẵn có. Không có những rặng tre kiên cố làm ranh giới hữu hình, sự phân chia giữa các cụm dân cư ở đây chủ yếu dựa vào các yếu tố thiên nhiên như sông rạch, kinh mương, từ đó hình thành nên các danh xưng giàu tính địa lý như “miệt vườn,” “miệt thứ.” Chính yếu tố thiên nhiên rộng lớn, phóng khoáng này đã trở thành nguyên nhân căn bản kiến tạo nên một cấu trúc làng xã mở.
Sự giao lưu trên vùng đất châu thổ
Hệ thống địa lý của Đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng trên nền tảng của sự thuận lợi tuyệt đối cho giao thương và trao đổi văn hóa. Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt không chỉ là huyết mạch nội tại mà còn là điểm kết nối thương mại quan trọng với các quốc gia lân cận. Sông Mê Kông vĩ đại chảy dài, liên tục tiếp giáp với Lào, Campuchia, Thái Lan, đổ ra biển lớn, biến vùng đất cuối châu thổ này thành một cửa ngõ chiến lược. Với ba mặt giáp biển (Đông, Nam, Tây Nam), miền cực Nam Việt Nam giữ một vị thế giao lưu quốc tế quan trọng, có khoảng cách ngắn nhất đến các hải đảo và bán đảo trong khu vực Đông Nam Á. Chính sự tương tác hài hòa của các yếu tố tự nhiên đã gắn liền tính cách mở của vùng đất này với sự năng động vượt trội và đa dạng sinh thái hiếm có.
Sự hội tụ của cư dân tứ phương
Về mặt xã hội, Đồng bằng sông Cửu Long chính là điểm hẹn của cư dân tứ xứ. Từ thế kỷ XVII, vùng đất này bắt đầu tiếp nhận những làn sóng dân cư mới, mang theo những nền văn hóa đa dạng cùng chung tay khẩn hoang và lập nghiệp. Lớp cư dân đầu tiên phần lớn là những người buộc phải rời bỏ quê hương do hậu quả khốc liệt của cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, cùng với nông dân, thợ thủ công nghèo, và những người tha hương mong cầu cuộc sống mới, thoát khỏi sự áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến. Những khu vực định cư ban đầu là Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hòa, Sài Gòn).
Đến cuối thế kỷ XVII, thành phần cư dân càng trở nên phong phú hơn với sự góp mặt của người Hoa, chủ yếu là các quan, quân nhà Minh không chịu khuất phục triều đình Mãn Thanh. Điển hình là nhóm Tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cùng với 3.000 người và 50 chiếc thuyền đã xin nhập làm thần bộc nước ta và được chỉ định định cư ở vùng Đồng Nai và Mỹ Tho. Thêm vào đó, còn có lực lượng “phản Thanh phục Minh” khác do Mạc Cửu lãnh đạo. Ông là người Châu Lôi, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), người đã khẩn hoang và thiết lập khu vực Mang Khảm. Sau khi tổ chức hành chính tương đối ổn định và dân cư quy tụ đông đúc, Mạc Cửu đã dâng biểu lên Triều đình Phú Xuân, xin hiến đất Hà Tiên cho Đại Việt và được chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận, sắc phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc hầu. Vào khoảng thế kỷ XVIII, vùng đất này tiếp tục chào đón thêm một lượng lớn cư dân Chăm đến sinh sống.
Cuộc sống cộng cư giữa các dân tộc, mà thành phần người Việt đóng vai trò chủ đạo, trong một vùng đất hoang sơ và khắc nghiệt đã nung đúc nên tinh thần đoàn kết, hòa thuận sâu sắc. Tất cả cùng đồng lòng chung sức khai phá, biến những cánh rừng rậm hoang vu trở thành xóm làng đông đúc, ruộng đồng màu mỡ. Họ cùng nhau xây lộ, đắp cầu, dần dần hình thành nên chợ búa, thị tứ, từ đó thiết lập nên các trung tâm dân cư sầm uất.
Dấu ấn của nền kinh tế hàng hóa
Nhờ đặc điểm tự nhiên và xã hội độc đáo, Đồng bằng sông Cửu Long sớm hình thành nền kinh tế hàng hóa năng động, với sự giao lưu buôn bán thông thương mạnh mẽ cả trong và ngoài nước. Từ xa xưa, các thị tứ và thương cảng quan trọng đã xuất hiện, như Mỹ Tho hay Bãi Sào—những nơi mà sách Gia Định thành thông chí đã từng ngợi ca là “cả nước không đâu bằng.” Ngay cả những ngôi chợ làng, chợ quê cũng hình thành một cách tự nhiên tại những “chỗ giáp nước” (nơi đổi con nước). Bởi lẽ, hầu hết ghe thuyền phải đậu lại chờ đợi con nước sau, và trong thời gian nghỉ ngơi, người dân lên bờ mua bán nhu yếu phẩm, uống trà, cà phê, thế là tự nhiên hình thành các trung tâm giao thương tự phát, tương tự như những “nhà ga có chỗ tránh trên đường thủy.”
Sự hội tụ của nhiều dân tộc tại ĐBSCL đã tạo nên một dòng chảy giao lưu văn hóa mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức làm ăn, trang phục, sinh hoạt, phong tục tập quán và ngôn ngữ. Điển hình là phương ngữ ĐBSCL tiếp nhận nhiều từ mượn từ tiếng Khmer, tiếng Quảng Đông, và tiếng Triều Châu. Sự hiện diện đông đảo của người Hoa từ cuối thế kỷ XVII đã khiến người Việt tiếp thu vào vốn từ ngữ của mình hàng trăm từ gốc Quảng Đông, Triều Châu trong quá trình giao lưu, mua bán. Văn hóa giao hòa, đa dạng sắc thái, là mảng màu rực rỡ trên vùng đất này.
Bên cạnh đó, ĐBSCL là nơi tiếp nhận và dung hòa nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Cùng với tín ngưỡng thờ thần truyền thống, Tam giáo cũng phát triển mạnh mẽ, trong đó Phật giáo có nhiều khởi sắc khi được họ Nguyễn chọn làm chính giáo. Nền tảng tinh thần truyền thống này nhanh chóng có sự phân hóa bởi sự du nhập của Công giáo vào nhiều khu vực làng xã, thông qua nỗ lực truyền đạo của các thừa sai thuộc Dòng Tên, Dòng Phanxico và Hội Truyền Giáo Nước Ngoài Paris.
Văn hóa mở, ranh giới mờ
Do đặc tính cởi mở, văn hóa dân gian ở Đồng bằng sông Cửu Long có sức lan tỏa mãnh liệt, xóa nhòa đi ranh giới hành chính khô cứng. Những câu chuyện cười trứ danh của Bác Ba Phi, ngay từ khi ra đời, đã được chuyên chở đi khắp nơi chứ không chỉ giới hạn tại tỉnh Cà Mau. Ngày trước, trên những chiếc “ghe cá mui son” hay ghe thương hồ xuôi ngược từ chợ lớn đến tận mũi Cà Mau, người chèo ghe thường chỉ sử dụng một giọng, một điệu hò duy nhất. Điều này minh chứng rằng, “ranh giới địa lý hành chánh không đồng nhất với ranh giới khu biệt các làn điệu dân ca,” thể hiện sự thống nhất về mặt tâm hồn và văn hóa trong không gian rộng lớn này.
Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Kẻo gió giông khói đèn, bờ bụi tối tăm.
Tựu trung, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất của sự mênh mông, đa dạng và phì nhiêu, mời gọi cư dân đến khai phá, đồng thời có một hệ thống sông rạch thuận lợi cho giao thương. Chính sự kết hợp giữa thiên nhiên rộng mở và nền kinh tế hàng hóa phát triển sớm đã tạo nên động lực trao đổi, trở thành nguyên nhân cốt lõi kiến tạo nên tính cách mở đặc trưng của miền Tây Nam Bộ.
