Chợ Gạo, với tên chữ là Mễ Quán, từ lâu đã khẳng định vị thế là trung tâm giao thương lúa gạo và nông sản lớn bậc nhất miền Tây. Khu chợ do ông Trần Văn Ngoạn khai lập tại làng Bình Phan từ thời Cảnh Hưng, chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những điểm kinh tế trọng yếu của Mỹ Tho. Ngày nay, cùng với tuyến kênh xáng độc đạo mang tên mình, Chợ Gạo tiếp tục là huyết mạch giao thông quan trọng, kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với TP Hồ Chí Minh.
Từ mễ quán sầm uất đến trung tâm trọng yếu của Mỹ Tho
Chợ Gạo ban sơ là một trong bốn khu chợ sung túc nhất của huyện, được ông Trần Văn Ngoạn tạo dựng tại làng Bình Phan, tổng Hòa Hảo dưới triều Cảnh Hưng, chuyên mua bán lúa gạo và các loại nông sản thiết yếu. Theo ghi chép của tác giả Vương Hồng Sển trong “Tự vị tiếng nói miền Nam”, vào năm 1897, Chợ Gạo đã là một trong 26 ngôi chợ lớn của Mỹ Tho. Đến năm 1912, chính quyền Pháp chính thức thành lập quận Chợ Gạo, và sau đó, vào năm 1939, khu vực này trở thành một trong năm quận trọng yếu nhất của tỉnh Mỹ Tho bấy giờ.
Sau năm 1975, huyện Chợ Gạo thuộc quyền quản lý của tỉnh Tiền Giang. Địa phương này sở hữu ba tuyến giao thông chiến lược quan trọng đi qua, bao gồm quốc lộ 50, kinh Bảo Định và kinh xáng Chợ Gạo. Kinh Bảo Định là công trình thủy lợi lịch sử, được vua Gia Long cho dân đào đắp để nối Mỹ Tho với sông Tiền. Công trình này sau khi hoàn thành đã được đặt tên là Bảo Định Hà. Theo Tiến sĩ Nguyễn Phúc Nghiệp, người Pháp đã sử dụng xáng múc để nạo vét và chỉnh trang kinh Bảo Định vào năm 1867, sau đó tiếp tục mở rộng kinh Bà Bèo và đặc biệt là kinh Chợ Gạo nhằm phục vụ đắc lực cho mục đích giao thông và quân sự.
Kinh xáng Chợ Gạo: Con đường huyết mạch được kiến tạo
Kinh Chợ Gạo sơ khai do người dân tự đào từ năm 1875, với độ sâu 3 mét và chiều rộng 20 mét. Đến năm 1913, chính quyền thực dân đã tiến hành nạo vét và mở rộng kinh bằng xáng múc công suất lớn, đặt tên là Canal Duperré. Tuyến kinh này là cầu nối quan trọng giữa sông Tiền tại rạch Kỳ Hôn, cách Mỹ Tho khoảng 4 km, với sông Vàm Cỏ Tây tại rạch Lá. Dòng kinh chảy ngang qua địa phận huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) và huyện Châu Thành (Long An), có tổng chiều dài lên đến 28,5 km.
Ngay từ đầu thế kỷ 17, những lưu dân người Việt từ miền Trung đã tìm đến Mỹ Tho và các khu vực lân cận để khai khẩn đất đai, trồng lúa và đánh bắt thủy hải sản. Dù phải trải qua muôn vàn gian nan vất vả của công cuộc khai hoang mở cõi, nhưng đoàn người luôn gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ và sản vật dồi dào, nhờ đó kinh tế nông nghiệp phát triển vô cùng nhanh chóng. Đến cuối thế kỷ 17, Mỹ Tho đã vươn lên trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn nhất tại Đồng bằng Nam Bộ, được mệnh danh là Mỹ Tho đại phố. Vào thời điểm ấy, không chỉ thương nhân người Việt mà cả người Hoa, người Tây Dương, Nhật Bản và Java cũng tìm đến đây giao dịch bằng đường thủy, dần dần mở rộng thương trường, tiến sâu vào các vùng nông nghiệp trù phú như Chợ Gạo, Cái Bè hay Gò Công.
Dấu ấn khai hoang và sự trù phú của đồng bằng sông Cửu Long
Trong suốt thời kỳ khai hoang mở cõi, việc đào kinh rạch, mở lộ giao thông đều là thành quả của sự lao động cật lực, liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính công sức ấy đã biến những vùng đất hoang hóa, ngập phèn trở thành những mảnh ruộng phì nhiêu và vườn cây ăn trái trĩu quả. Từ lúc kinh Chợ Gạo mới được đào, đời sống cư dân hai bên bờ đã trở nên sung túc hơn, đặc biệt là sau năm 1902, khi hoạt động thương thuyền qua lại vô cùng tấp nập. Công ty giang vận (Messageries Fluriales) cũng sắm tàu phục vụ hành khách trên tuyến kinh này. Để quản lý giao thông và ngăn ngừa tai nạn, nhà cầm quyền đã đặt một đồn kiểm tra và một bến phà đưa khách qua sông, người dân quen gọi là bắc Chợ Gạo.
Ngoài việc mở đường cho hoạt động khai thác vùng đất hoang hóa, kinh Chợ Gạo còn mang ý nghĩa sinh thái vô cùng lớn, giúp cung cấp phù sa bồi đắp ruộng đồng, đồng thời xổ phèn, giúp hàng ngàn hộ dân thoát khỏi cảnh nghèo khó. Dọc theo hai bên bờ kinh, nhiều ngôi chợ, nhiều nhà máy sản xuất nước mắm mọc lên, nuôi sống hàng ngàn thương lái, tiểu thương, tạo điều kiện cho nhiều thương nhân thành đạt, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước. Ông Huỳnh Văn Tân, cư dân sống cạnh bờ kênh, hồi tưởng lại rằng nhờ bám theo những chiếc ghe chài chở hàng để buôn bán hàng xén mà gia đình ông trước năm 1980 mới khấm khá, nuôi con cái ăn học thành tài.
Cũng như kinh Xà No tại Hậu Giang, sự ra đời của kinh Chợ Gạo đã mở ra những bước phát triển mới, không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn thúc đẩy các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Bà con nông dân huyện Chợ Gạo thể hiện sự năng động, nhanh chóng nắm bắt kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường, mạnh dạn đầu tư sản xuất, chuyển đổi vật nuôi cây trồng cho phù hợp với nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Hơn nữa, kinh Chợ Gạo còn là nền tảng để xây dựng hệ thống kinh đào và mạng lưới thủy lợi, đảm bảo cho nội đồng có thể canh tác quanh năm.
Gánh nặng lịch sử và tầm quan trọng của tuyến thủy độc đạo
Trước khi có sự xuất hiện của những chiếc tàu Tây, các thương lái người Việt Nam và Hoa kiều đã phải chịu bao gian truân, vất vả để vận chuyển hàng hóa và lúa gạo. Ông Lư Văn Tròn, người gốc Hoa, hiện cư ngụ tại Cần Thơ, nhớ lại khoảng thời gian trước năm 1954, ông thường theo cha là chủ ghe chài chở gạo lên Sài Gòn buôn bán. Hồi đó, kinh Chợ Gạo tuy ghe xuồng qua lại rất đông nhưng đa số phải dùng sào để chống, khiến mỗi chuyến hàng phải mất hơn 10 ngày. Cụ Ba Xinh, người làm công tại chành Chánh Hưng ở Cái Răng, kể rằng thời Pháp thuộc, hầu hết thương lái đều có ghe lớn ghe nhỏ chèo chống khắp nơi để thu mua lúa. Mãi đến khi những chiếc tàu sắt, hay còn gọi là xà-lúp (chaloupe), xuất hiện kéo theo đoàn ghe chài, việc vận chuyển mới trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Lúc này, các chành lúa và nhà máy xay mới đầu tư hàng trăm ghe chài chở lúa gạo, tiến về Chợ Lớn thông qua con đường độc đạo chính là kinh Chợ Gạo.
Sau năm 1975, thị trấn Chợ Gạo nằm ở vị trí trung tâm huyện, phía Nam giáp với kinh Chợ Gạo. Con đường thủy huyết mạch này đóng vai trò cực kỳ quan trọng, mỗi năm chuyển tải hàng chục triệu tấn gạo, nông sản thực phẩm, cát đá từ miền Tây lên TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Trung Bộ. Đồng thời, nó cũng là kênh vận chuyển ngược về miền Tây nhiều mặt hàng chủ lực như phân bón, thức ăn gia súc và vật liệu xây dựng. Vì là tuyến đường thủy độc đạo, con đường “yết hầu” nối liền Đồng bằng sông Cửu Long với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước nên kinh Chợ Gạo còn được nhiều người gọi là “Con đường Đông Tây”.
Trải qua bao biến đổi thăng trầm từ khi hình thành đến nay, chợ Gạo vẫn luôn giữ được sự sung túc, thịnh vượng. Dòng kinh Chợ Gạo vẫn gồng mình giữ vai trò huyết mạch, ngày đêm cưu mang hàng ngàn chiếc sà lan, tàu bè, ghe xuồng thông thương. Tuy nhiên, cũng vì là tuyến đường thủy độc đạo, con kênh này đã trở nên quá tải, thường xuyên xảy ra tình trạng ách tắc giao thông, gây thiệt hại cho tàu thuyền, đặc biệt tại đoạn cầu Chợ Gạo quá hẹp và việc phân luồng tuyến còn nhiều bất cập. Ước tính, vào những ngày cao điểm, có tới hàng ngàn lượt phương tiện trọng tải lớn qua lại, phần lớn là sà lan, dẫn đến tai nạn xảy ra trên kinh ngày càng nhiều. Để khắc phục tình trạng này, các ngành chức năng đã tiến hành nạo vét, xây dựng bờ kè và làm mới các đoạn bị sạt lở nhằm giúp tàu bè lưu thông dễ dàng hơn. Dẫu vậy, nhiều đoạn kinh vẫn tiếp tục bị xói lở, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng ngàn hộ dân đang sinh sống dọc theo các tuyến kinh, đông đảo nhất là tại huyện Chợ Gạo.
