Menu Đóng

Đôi nét Nghệ sĩ Minh Cảnh Cuộc Đời & Sự Nghiệp

Đôi nét Nghệ sĩ Minh Cảnh Cuộc Đời & Sự Nghiệp

Nghệ sĩ Minh Cảnh sinh năm 1939. Thân phụ của ông là người quê ở Quảng Bình, đã từng làm phu đạp xe xích lô khi đến Sài Gòn, sau đó làm tài xế taxi và khá hơn. Mẹ của Minh Cảnh là người buôn gánh bán bưng. Theo lời kể của ông, mẹ ông đã sinh đến 20 đứa con, nhưng đã mất 12 trong số đó do bệnh tật. Minh Cảnh là con lớn nhất trong số 8 người con còn lại.

Khi Minh Cảnh lên 11 tuổi, anh đã chuyển tới sống cùng bà ngoại và dì ba tại một căn nhà ở góc đường Nguyễn Thiện Thuật và Phan Thanh Giản. Vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó, Minh Cảnh cùng các bạn phải đi bươi rác và thu thập những vật liệu tái chế như chai lọ, nylon và giấy vụn để bán lại cho các bà mua ve chai. Buổi trưa và tối, Minh Cảnh lại đi bán bánh cam và chuối chiên để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Anh mua chuối chiên của chị bán tại nhà Út Trà Ôn đường Phan Thanh Giản. Trong lúc chờ đợi hàng, Minh Cảnh lắng nghe những giai điệu ca vọng cổ trong nhà Út Trà Ôn và học hát theo để giải tỏa nỗi buồn. Anh đã bị thu hút bởi giọng hát đầy cảm xúc của thần tượng Út Trà Ôn, giọng ca u uất của sầu nữ Út Bạch Lan và giọng hát dịu dàng, tình cảm của ca sĩ Hữu Phước.

Nghệ sĩ Minh Cảnh thời trẻ
Nghệ sĩ Minh Cảnh thời trẻ

Lúc 15 tuổi, Minh Cảnh cùng gia đình di chuyển đến đường Phạm Thế Hiển, quận 8 để định cư. Gần nhà của anh có một thợ hớt tóc tên Sĩ, người có kinh nghiệm về đàn cổ nhạc và đã dạy cho Minh Cảnh hát ca vọng cổ và các bài cải lương.

Vào ngày giỗ Tổ, ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1960, Minh Cảnh đã đi bán bánh ú tôm thịt ở gần bến xe, cách rạp hát Aristo trên đường Lê Lai và ga xe lửa Saigon không xa. Minh Cảnh đã quen với anh Được, một nhạc sĩ đàn violon trong ban cổ nhạc đoàn hát Kim Chung. Anh Được đã dẫn Minh Cảnh vào gánh hát chơi. Sau khi thắp nhang lạy Tổ như các diễn viên trong đoàn hát, Minh Cảnh được cho ở lại và ăn uống trong tiệc sau lễ giỗ Tổ. Dù đã 21 tuổi, nhưng Minh Cảnh thường xuyên ốm đói nên vóc dáng của anh nhỏ xíu chỉ như một đứa trẻ 11 hoặc 12 tuổi.

Trong tiệc rượu sau lễ cúng Tổ, anh Được giới thiệu Minh Cảnh với bài hát vọng cổ “Lá thư người chiến sĩ” gồm sáu câu. Anh Được chơi đàn violon, Ngọc Sáu chơi đàn cò và Bảy Trạch chơi đàn kìm. Mọi người trong buổi tiệc đều vỗ tay tán thưởng khi Minh Cảnh hoàn thành màn trình diễn. Nhạc sĩ đàn cò Sáu Xíu đã giới thiệu giọng hát của Minh Cảnh với ông bầu Long.

Sau khi nghe Minh Cảnh biểu diễn sáu câu vọng cổ, ông bầu Long đã đồng ý cho anh vào đoàn hát với mức lương đêm là bốn chục đồng và ký hợp đồng trị giá 20.000 đồng trong hai năm. Minh Cảnh có một giọng ca lạ, luyến lái êm dịu, từ một người bánh cam dạo đã được đưa lên sân khấu. Mức lương của Minh Cảnh cao đến mức không có bất kỳ nhân viên công chức nào làm việc cho chính phủ thời đó có thể mơ ước được.

Nghệ sỉ Lệ Thủy (trái) và Minh Cảnh (phải)
Nghệ sỉ Lệ Thủy (trái) và Minh Cảnh (phải)

Tên nghệ danh Minh Cảnh được đặt bởi vợ của nhạc sĩ Năm Được. Mỹ danh “thần đồng” của Minh Cảnh được tặng bởi ký giả Nguyễn Ang Ca khi ông nhận thấy rằng dù Minh Cảnh đã 21 tuổi nhưng vóc dáng của anh nhỏ nhắn như một đứa trẻ.

Nghệ sĩ Minh Cảnh không được đào tạo tại bất kỳ trường nghệ thuật chính quy nào. Ông cũng không phải đã tuân theo một trình tự học hát như: làm quân hầu, kép con, kép cạnh trước khi đến kép mùi hoặc kép độc như phần đông các nghệ sĩ tiền bối.

Khi vào đoàn hát, vào đầu những năm 60, Minh Cảnh chỉ biết hát được sáu câu vọng cổ và chỉ với một bước đột phá, anh trở thành kép chánh, kép ca nhờ vào giọng hát vọng cổ. Tình trạng này được gọi là “Kép ca đá kép diễn” và phổ biến trong thập niên 60.

Các danh ca vọng cổ như Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm, Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Thanh Thanh Hoa và Mỹ Châu, mặc dù về phương diện diễn xuất còn kém, nhờ giọng hát vọng cổ, đã trở thành kép chánh, đào chánh của đoàn hát.

Trong khi đó, các diễn viên với tài diễn xuất bậc thầy lại phải lui về hàng thứ hai hoặc thứ ba trong dàn đào kép của đoàn hát. Thậm chí, một số nghệ sĩ đã chuyển nghề, như mở quán cà phê, tiệm uốn tóc, hoặc trở thành giáo sư kịch nghệ hoặc làm việc lồng tiếng cho các phim ngoại quốc. Các tài danh sân khấu như Năm Châu, Kim Cúc, Bảy Nhiêu, Ba Thâu, Văn Lâu, Tám Lắm, Văn Lang,…

Trong vở tuồng Quán Gấm Đầu Làng, Minh Cảnh đã thể hiện một câu vô vọng cổ dài hơn cả, gồm 53 chữ. Đây là bước đầu tiên của trào lưu ca vọng cổ dài hơi, được các nghệ sĩ Giang Châu, Bình Trang, Châu Thanh và Phượng Hằng tiếp nối và phát triển thành một trường phái nghệ thuật.

Năm 1961, Bầu Long đã chuyển đoàn Kim Chung sang biểu diễn tại rạp Olympic. Cùng năm đó, nghệ sĩ Minh Cảnh đã nổi danh với bài vọng cổ đầu tiên “Tu là cội phúc” do soạn giả Viễn Châu sáng tác. Sau đó, ông đã thu âm nhiều bài vọng cổ khác của Viễn Châu tại các hãng Asia, Việt Nam, Tứ Hải, bao gồm “Võ Đông Sơ”, “Lương Sơn Bá”, “Mưa trên phố Huế”, “Sầu vương ý nhạc”, “Chuyến xe lam chiều”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Lòng dạ đàn bà”, “Em bé đánh giày”, “Trái sầu riêng” (với Mỹ Châu), “Đời mưa gió”, “Ni cô và Kiếm sĩ” (với Diệu Hiền), “Người điên yêu trăng”, “Khóc cười”, “Hai bản đàn xuân” (của Quy Sắc) và nhiều tác phẩm khác.

Trên sân khấu Kim Chung, ông đã đóng vai cùng với Diệu Hiền, Mỹ Châu, Kim Hoàng và Mỵ Lan trong các vở như: “Dôi mắt mẹ hiền”, “Tướng cướp Bạch Hải Đường”, “Công Chúa cá Phò Mả cùi”, “Quán gấm đầu làng”, “Hoa rụng trắng thiền môn”, “Lục Vân Tiên Kiều Nguyệt Nga” và “Phật Thích Ca đắc đạo”.

Đoàn hát Kim Chung
Đoàn hát Kim Chung

Năm 1963, đoàn Kim Chung 2 đã thành lập đoàn và trong đó, Minh Cảnh đã chuyển sang đoàn này cùng với Diệu Hiền và Mỹ Châu, và đã tham gia diễn xuất trong những vở như “Manh áo quê nghèo”, “Bến cầu vọng thê”, “Lưỡi kiếm thần”, “Lời thơ trên tuyết”, “Bức hoạ da người”, “Bẻ kiếm bên trời”, “Hận đầu xanh”, “Bích Vân Cung kỳ án” và “Trinh nữ lầu xanh”.

Vào năm 1967, Minh Cảnh đã lập ra đoàn hát riêng mang tên “Minh Cảnh kịch đoàn”. Anh đã gặt hái được thành công trong việc thu âm và phát hành đĩa nhạc. Tuy nhiên, khi anh thử làm bầu hát thì không thành công vì nghề này có những khó khăn riêng, không phải dễ dàng như việc hát trên sân khấu. Vì vậy, Minh Cảnh đã quyết định dừng hoạt động bầu hát và trở về biểu diễn cho đoàn hát Kim Chung. Trong nhiều năm, anh đã lưu diễn ở miền Trung.

Như phần lớn các nghệ sĩ cải lương khác, trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975, sân khấu cải lương và nghệ sĩ cải lương đã trải qua một kỳ thịnh vượng mà cho đến ngày nay vẫn được gọi là “thời hoàng kim” của nghệ thuật và các nghệ sĩ cải lương. Thu nhập của các nghệ sĩ ở thời điểm đó rất cao, cuộc sống của họ rất thoải mái và văn nghệ được tự do phát triển, điều này đã làm cho khán giả rất yêu thích xem cải lương. Tuy nhiên, sau năm 1975, cuộc sống của các nghệ sĩ đã phải thay đổi và làm việc theo cách khác, hát với mục đích khác và cuộc sống của họ trở nên khó khăn và thiếu thốn, thời kỳ huy hoàng dành cho các giọng ca vàng đã không còn nữa. Hiện tại, Minh Cảnh đang sống tại Hoa Kỳ.

Posted in Tân Cổ Giao Duyên

Bài tham khảo

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *