Từ trong những câu hát bội vang vọng, ông Hiếu như sống lại một thời vàng son trên sân khấu, khi ông còn “làm vương làm tướng” và những chuyến ghe bầu xuôi ngược sông nước. Giờ đây, bệnh tật và tuổi già đã khiến ông phải rời xa ánh đèn sân khấu, nhưng tình yêu mãnh liệt dành cho nghệ thuật truyền thống vẫn cháy bỏng, thôi thúc ông truyền nghề cho thế hệ mai sau.
Ba đời hát bội, làm bầu
Trong một căn nhà tạm bợ, lọt thỏm giữa những tòa cao ốc sừng sững tại Trung tâm Thương mại Cái Khế, ông Hiếu vẫn miệt mài gieo mầm hát bội cho con trai và các cháu. Dù thân hình nhỏ bé, ông lại hóa thân thành nhân vật một cách đầy thần thái, từng bước tấn, bước bộ uy nghi, tiếng hô “Quân sĩ! Quân sĩ…” vang vọng cả khoảng sân. Ông chỉnh lại nét mặt cho cậu con trai út, nhấn mạnh: “Mặt vua phải hiên ngang, khí phách!”. Niềm say mê tưởng chừng bất tận ấy lại bị ngắt quãng bởi cơn ho sặc sụa, khiến ông mệt lả. Ngậm ngùi, ông thốt lên: “8 tháng nay bệnh trở nặng, không đi hát được nữa. Nằm lay lắt ở nhà mà lòng buồn đứt ruột!”.
Trong không gian chật hẹp, vừa đủ cho vài người ngồi, ông Hiếu đã mở lòng kể về cuộc đời mình, một cuộc đời gắn liền với hát bội và vai trò “bầu gánh” đầy vinh quang lẫn trắc trở.
Tên thật là Huỳnh Văn Hiếu, ông đã tiếp quản gánh hát bội Thành Phước từ người cha quá cố cách đây 15 năm. Quyết không để gia nghiệp tổ tiên bị mai một, ông đã gánh vác trách nhiệm và từ đó, mọi người quen gọi ông là Bầu Hiếu. Ông là thế hệ thứ ba nối tiếp truyền thống lẫy lừng của gia tộc, từ ông nội Bầu Lắm đến cha Bầu Đực, những tên tuổi đã từng làm rạng danh sân khấu hát bội Cần Thơ. Hầu hết cô, chú, anh chị em trong gia đình ông đều là những nghệ sĩ tài năng. Ngoài gánh Thành Phước, dòng họ Bầu Hiếu còn sở hữu hai đoàn hát bội danh tiếng khác là “Hồng Châu” ở Bạc Liêu và “Minh Khai” ở Sóc Trăng, do hai người dì của ông làm bầu.
Chậm rãi lau bộ ngực gầy gò bằng chiếc khăn ướt, Bầu Hiếu mỉm cười, một nụ cười ẩn chứa bao nỗi niềm: “Nghĩ lại, nghề hát bội dính vào tôi như một cái nghiệp, nên đành chấp nhận vương mang”. Từ thuở ấu thơ, ông đã theo gót gia đình, rong ruổi trên những chuyến ghe hát qua khắp các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng. Tiếng đờn, tiếng hát từ sân khấu cứ thế thấm vào máu thịt ông. Lên 10 tuổi, ông đã được ông nội cho đóng vai chạy bận, tức là quân sĩ hoặc người dâng rượu. Lớn thêm chút nữa, ông được ông nội và cha truyền dạy những vai diễn quan trọng trong các tuồng cổ. Đến tuổi 20, Bầu Hiếu đã có thể hóa thân vào đủ mọi dạng nhân vật, từ vua, tướng đến bi, hài, phản diện hay chính trực. Gần như tất cả các tuồng cổ kinh điển của nghệ thuật hát bội như “San hậu”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, “Thần nữ dâng ngũ linh kỳ”, “Trảm Trịnh Ân”, “Lưu Kim Đính” đều đã được ông thể hiện trên sân khấu.
Giữa câu chuyện, vợ ông, bà Châu Bích Thủy, trở về sau chuyến đi công việc. Ánh mắt Bầu Hiếu chợt lấp lánh nụ cười vừa buồn vừa vui, ông ví von mối duyên vợ chồng mình với câu ca dao: “Trồng trầu trồng lộn với tiêu/ Con theo hát bội mẹ liều con hư!”. Năm 19 tuổi, trong một lần diễn ở đình làng Hưng Hội, Bạc Liêu, ông thủ vai hề râu quắc ngược, nói giọng mái lanh lảnh khiến khán giả cười ngất. Châu Bích Thủy, một cô gái xứ Muối, đã bị cuốn hút bởi chàng hề tài năng, bất chấp sự cấm đoán gay gắt từ gia đình, cô đã theo anh hề hát bội làm vợ. Ông Hiếu đã tận tình dạy vợ hát vai cung nữ, rồi vai mùi, và cuối cùng là đào chánh. Tài năng của nghệ sĩ Bích Thủy được đón nhận nồng nhiệt không kém gì chồng, và tính đến nay, bà đã gắn bó với nghề hát bội ngót 30 năm.
Ba người con của ông bà đều chào đời ngay trên chiếc ghe hát và cũng nối nghiệp cha mẹ. Cứ thế, nghề nối nghề, cha truyền con nối, tình yêu và trách nhiệm với sân khấu đã gắn kết ba thế hệ này. Hiện tại, ngay cả đứa cháu ngoại mới 5 tuổi của ông Hiếu cũng đã có thể chạy bận, bước lên sân khấu. Tiếng “Dạ!” của cậu bé đầy hào sảng, khí phách, dường như được truyền lại từ dòng máu nghệ thuật của ông bà, cha mẹ.
50 tuổi đời, gần 40 năm gắn bó với hát bội và 15 năm làm bầu gánh, Bầu Hiếu vẫn chưa muốn ngơi nghỉ. Cái tình, cái nghĩa với sân khấu đã ăn sâu vào cốt tủy, không thể dứt bỏ. Dù tuổi đời chưa thật lớn, căn bệnh lao hành hạ đã khiến giọng ca ông khàn đục, những động tác diễn không còn mạnh mẽ và chính xác như xưa. Thế nhưng, mỗi đêm về, trong con hẻm vắng lặng của khu phố chợ ồn ào, người ta vẫn thấy ông tận tâm dạy con cháu hát bội, uốn nắn từng điệu bộ, lời ca.
Ba đời gắn bó với hát bội và vai trò bầu gánh, chừng ấy thời gian đủ để Bầu Hiếu cảm nhận sâu sắc cả vinh quang lẫn những nỗi tủi cực của nghiệp cầm ca.
Nỗi niềm của bầu Hiếu
Nhớ về một thời “làm vương, làm tướng” trên sân khấu, đôi mắt Bầu Hiếu lại sáng lên rạng rỡ, ông say sưa kể. Thuở ấy, mỗi khi các đình làng ở Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức cúng Kỳ yên Thượng điền, Kỳ yên Hạ điền, gánh hát nhà ông diễn không xuể. Đoàn hát thường di chuyển bằng ghe, mỗi đoàn gồm gần chục chiếc. Ghe của ông bầu và người biện tuồng luôn đi trước, theo sau là ghe của diễn viên, nghệ sĩ, hậu đài. Nghe tin có gánh hát, bà con chạy rợp hai bên bờ kinh để đón xem. Mới chập choạng tối, sân đình đã chật kín người. Nhiều người còn chèo ghe, xuồng đậu san sát bến đình để xem hát bội. Sau mỗi lớp tuồng, tiếng vỗ tay vang dội như sấm dậy, tạo động lực cho nghệ sĩ diễn hết mình. Bởi lẽ đó, sân khấu thời ấy thực sự được coi là “thánh đường nghệ thuật”.
Bầu Hiếu còn kể cho chúng tôi nghe những luật lệ thú vị trong cuộc đời nghệ sĩ hát tuồng. Dù đang bận rộn việc gì, hễ nghe quản lý đánh trống giục là phải tức tốc về ăn cơm hoặc ráp tuồng. Nếu đến trễ khi ráp tuồng, nghệ sĩ phải chạy lại bàn thờ Tổ để xem “lăng tuồng” (danh sách phân vai) mà chủ động tập luyện. Khi ra diễn, ai nấy đều phải hết mình, không được phân tâm. Hát hay, diễn giỏi sẽ được người cầm chầu đánh trống “tùng… tùng… tùng…” và nhận được tràng pháo tay vang dội từ khán giả, cùng với phần thưởng ngay sau đó. Ngược lại, nghệ sĩ nào diễn dở sẽ bị người cầm chầu gõ vào tang trống mấy tiếng “rụp.. cắc… cắc…” và chịu phạt. Thậm chí, thời ông nội Bầu Hiếu làm bầu, có người còn bị đánh ba roi để chừa tội “diễn dối”. Qua đó mới thấy cái “đạo nghề” cao quý nhường nào!
Nỗi ưu tư về hiện trạng nghệ thuật hát bội ngày nay khiến Bầu Hiếu lặng lẽ ngước nhìn bàn thờ Tổ nghiệp, giọng ông chùng xuống: “Èo uột lắm! Khán giả bây giờ đến xem hát bội chủ yếu vì hiếu kỳ, liếc một cái rồi đi chứ không còn vì niềm đam mê như trước. Đất diễn cho chúng tôi cũng ngày càng ít đi, bởi không phải đình làng nào bây giờ cũng có hát bội”. Gánh Thành Phước của Bầu Hiếu hiện có khoảng 25 người, trong đó có khoảng 15 người thuộc dòng tộc. Ông chia sẻ: “Hiện nay, có dịp hát ở đình lưu trú gần cả tuần, được hơn chục triệu đồng. Trừ chi phí chia ra, anh em được 700-800 ngàn đồng. Mà đâu được quanh năm, chỉ nhờ mấy lễ hội Kỳ Yên thôi. Bởi vậy, chúng tôi cố gắng duy trì nghề hát bội để những người làm nghề được hát, được sống trọn vẹn với nghiệp của mình trên sân khấu”.
Bôn ba khắp xứ, thế nhưng đến giờ Bầu Hiếu vẫn chưa có một ngôi nhà riêng để an cư. Căn nhà ông đang ở hiện là nhà “ở đậu” trên đất của người khác. Căn bệnh của ông một phần cũng do nghề nghiệp, bởi những tháng ngày thâu đêm suốt sáng, những chén rượu chung trà dọc đường lưu diễn. Vợ ông Hiếu kể với giọng buồn rười rượi: “Hơn 8 tháng nay ở nhà trị bệnh, ổng buồn lắm. Đêm đêm trong cơn mơ, ổng vẫn thường la sảng tên mấy nhân vật trong tuồng”. Ông Hiếu quay mặt vào vách như để giấu đi những giọt nước mắt đang lăn dài, rồi nói rằng: “Tôi chỉ buồn là để mấy đứa con học hành mới quen mặt chữ đã phải nghỉ. Bây giờ ngoài những lần đi diễn lại phải buôn thúng bán bưng, chạy vạy mưu sinh”. Chỉ thoáng chốc, ông quay mặt ra nhìn khách, cười hiền: “Nhưng mà vui. Có ai được một thời ‘làm vua làm chúa’, ngồi kiệu cho người ta khiêng như tôi đâu nè!”.
Giọng cười buồn của một người nghệ sĩ khi về chiều, mang theo bao tâm huyết và nỗi niềm sâu nặng với sân khấu hát bội… thật xót xa, trĩu nặng trong lòng người nghe.
Gánh hát bội Thành Phước của Bầu Hiếu đang tất bật tập tuồng, chuẩn bị ra Giêng đi hát lễ hội Kỳ Yên. Bầu Hiếu nguyện ước rằng: “Cầu Tổ nghiệp cho mau khỏi bệnh để được tiếp tục lên sân khấu diễn, được thể hiện hỉ, nộ, ái, ố”. Thật đáng trân trọng biết bao với một con người đã trọn đời cống hiến và một gánh hát bội cuối cùng trên đất Cần Thơ đang “gìn vàng giữ ngọc”, sống trọn vẹn với nghiệp đời.
