Những ký ức về điệu thức làm đồng xưa đã trở thành mạch nguồn sâu thẳm trong tâm thức người Nam Bộ. Giữa guồng quay phát triển và sự xâm nhập của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhiều nét sản xuất truyền thống đang dần bị mai một. Hình ảnh chiếc xa đạp nước, gàu dây hay kỹ thuật chế cỏ, lạn cỏ dường như đã lùi xa khỏi hình dung của thế hệ trẻ.
Nghề nông trù phú và những giống lúa cổ truyền
Thuở khai hoang, đất đai Nam Bộ vô cùng rộng lớn và màu mỡ, cho phép nông dân chỉ cần phát cỏ rồi cấy mà vẫn đạt sản lượng vượt trội. Có những vùng, người dân chỉ cần gieo một hộc giống lúa đã có thể thu hoạch được tới ba trăm hộc. Sự đa dạng sinh học còn được thể hiện qua nhiều giống lúa và nếp quý được sử dụng trong sản xuất. Về lúa, nổi tiếng phải kể đến tàu hương, ba túc, huyết rồng, tàu vững, nàng chol. Các giống nếp thì có nếp bà bóng, nếp than, hay nếp ruồi.
Hạt giống sau khi được ngâm ủ kỹ lưỡng, đợi đến khi nảy mầm mạnh mẽ thì đem gieo mạ. Khoảng hai tháng sau, mạ cứng cáp sẽ được nhổ để cấy. Theo chu kỳ truyền thống, nông dân bắt đầu gieo mạ vào khoảng tháng sáu âm lịch, tháng tám tiến hành cấy, và vụ mùa sẽ được thu hoạch vào tháng giêng năm sau. Tuy nhiên, thời điểm sản xuất tại Nam Bộ có sự linh hoạt đáng kể, phụ thuộc vào địa thế đất ruộng cao hay đất trũng mà có nơi làm sớm, nơi làm muộn hơn.
Bữa cơm làm đồng mang đậm dấu ấn ẩm thực
Người dân nông thôn Nam Bộ thường có thói quen thức giấc khi canh ba gà gáy sáng để chuẩn bị cho buổi đi “làm đồng” vất vả. Cơm tẻ hay cơm nếp đều được lựa chọn, nhưng cơm nếp lại đặc biệt được ưa chuộng nhờ độ thơm và dẻo vượt trội. Đặc biệt, món cơm nếp trộn với dừa cứng cạy nạo nhỏ trở thành một thức quà dân dã mà bất cứ ai cũng yêu thích. Cơm sau khi nấu xong được gói cẩn thận bằng mo cau hoặc đựng trong diệm, thau để mang ra đồng.
Thực đơn làm đồng tuy đơn giản nhưng lại vô cùng đậm đà hương vị quê nhà. Cơm nếp có thể ăn cùng đường mía hoặc trở nên hấp dẫn hơn khi dùng kèm mắm cá lóc, cá rô kho tộ hay tôm kho tàu. Đây là những món ăn dân dã, chứa đựng đầy đủ năng lượng cần thiết cho ngày dài lao động.
Nhịp sống nông nhàn và văn hóa đình làng
Khi những cơn mưa nặng hạt đổ xuống cũng là thời điểm người nông dân tiến hành nhổ mạ. Tùy thuộc vào mực nước ruộng, họ sử dụng các công cụ khác nhau để vận chuyển. Ruộng cạn thì dùng đòn xóc để gánh mạ. Ngược lại, những ruộng sâu hơn thì cần đến cây trúc hoặc dây mây để kéo mạ đã chuẩn bị sẵn ra ruộng cấy. Ngoài ra, việc vận chuyển còn có thể dùng tấm lỉa (ván mạ) để trâu kéo đi.
Sau khi hoàn tất việc gieo cấy cũng là lúc người nông dân bước vào giai đoạn nông nhàn. Đây không chỉ là thời gian nghỉ ngơi mà còn là dịp để họ tập trung vào làm vườn, chăn nuôi và tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật cộng đồng. Các buổi hò vè, đối đáp, xem hát bội, sân khấu cải lương trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu. Nét độc đáo trong đời sống nông thôn là sự gắn bó sâu sắc với nghệ thuật hát bội, thường diễn ra trong các dịp cúng đình. Mỗi làng đều có một ngôi đình, nơi tôn thờ Thành hoàng và các vị Tiền hiền, Hậu hiền có công khai mở, phát triển làng xã.
Bên cạnh hát bội, người dân Nam Bộ còn vô cùng say mê cải lương. Hễ nghe tin có đoàn hát về làng hay các làng lân cận là chiều hôm ấy, từ trẻ nhỏ đến người lớn đều náo nức kéo nhau đi xem. Thậm chí, nhiều đứa trẻ trốn nhà để được xem cho bằng được. Tình yêu nghệ thuật lớn đến mức, có những đêm nghệ sĩ đang diễn tuồng thì trời bất chợt đổ mưa lớn, nhưng người dân vẫn đội đầu dưới mưa, kiên trì xem đến tận phút cuối cùng.
Mùa gặt, tín ngưỡng và sự chuyển mình của cây lúa
Trong quá khứ, nông dân chỉ làm ruộng mỗi năm một vụ vì cây lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài, phải mất khoảng năm đến sáu tháng mới thu hoạch được, và họ hoàn toàn phải “trông mưa”. Tuy nhiên, vào cuối những năm 60, khu vực tỉnh Vĩnh Long bắt đầu gieo trồng trình diễn các giống lúa ngắn ngày, thường được gọi là lúa “Thần Nông”, và nhanh chóng cho kết quả khả quan. Dần dần, lúa thần nông được trồng phổ biến. Thậm chí, ở nhiều nơi, người ta chấp nhận phát bỏ lúa mùa đang tốt để chuyển sang trồng loại lúa mới này.
Khoảng cuối tháng mười, đầu tháng mười một âm lịch, khi mưa tạnh hoặc chỉ còn mưa nhỏ, lúa bắt đầu chín vàng rộ ngoài đồng. Lúc này, nước đồng cạn đi, tôm cá dồn lại vô số kể giữa “rún cày”. Đây cũng là thời điểm vào vụ bắt cá cạn nhộn nhịp. Nhà nào có đìa sẽ tát đìa bắt cá bằng rổ. Một người giỏi bắt cá có thể phải mất vài ngày mới vét hết cá dưới một cái đìa. Tôm cá đánh bắt được đựng trong cần xé gánh về nhà. Khung cảnh thu hoạch thủy sản lúc bấy giờ thật sự nhộn nhịp.
Vì lượng tôm cá quá nhiều, bà con nông dân sẽ lựa chọn những con cá lớn để xẻ, phơi khô hoặc làm mắm. Cá nhỏ hơn được làm sạch, ủ kỹ trong lu, khạp rồi nấu thành nước mắm. Nước mắm tự nấu này vừa thơm ngon, giàu dinh dưỡng lại chẳng hề thua kém các loại nước mắm hảo hạng trên thị trường.
Kỹ thuật thu hoạch lúa và hồn quê Nam Bộ
Sau khi ăn tết cổ truyền, đồng ruộng đã ngả vàng óng ả, báo hiệu vụ thu hoạch đã đến. Trước khi ra đồng, người nông dân có tập tục làm một mâm cỗ cúng “xuống đồng” linh thiêng. Đồng thời, họ chọn người làm ruộng giỏi nhất trong làng để “dở hộp” (người cắt lúa trước tiên) với niềm tin cầu mong một vụ mùa bội thu. Tinh thần tập thể được gắn kết qua hình thức “mần dần công” (đổi công) giữa các gia đình. Đến khi lúa đã an toàn nằm yên trong bồ, nông dân lại làm thêm một mâm cỗ nữa để cúng tạ ơn Thần Nông.
Thời kỳ chưa có máy cắt lúa, việc thu hoạch phần lớn sử dụng vòng gặt, sau đó mới phổ biến lưỡi hái và lưỡi liềm. Lúa cắt xong được dùng thân lúa bó lại thành từng lọn nhỏ, rồi dùng trâu cộ về các nền chòi, chất thành cà lan. Công đoạn đập lúa được thực hiện bằng sức trâu. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, từng đôi trâu nhẹ nhàng bước đi trên những bó lúa còn thơm mùi rạ. Tiếng cười nói rộn rã khắp miền quê. Đêm càng về khuya, lúa đã trơ rơm, từng đôi nam nữ cùng nhau “bắt bó” (dùng mỏ xải để giũ rơm). Những cụ già, trẻ em dùng trang hoặc bù cào để kéo lúa trải đều ra sân, rồi quét kiểu (dùng chổi chà quét sạch phần rơm sót lại).
Sáng hôm sau, những hạt lúa vàng óng ánh đã đầy sân, hứng trọn nắng ấm ban mai. Lúa được phơi se vỏ rồi dùng thúng xúc để giê (sàng sẩy). Công đoạn giê lúa ban đầu thực hiện bằng quạt chiếu hoặc gió trời. Về sau, người dân đã chế tạo được xa quạt lúa bằng tay, rồi dần thay thế bằng máy. Bên cạnh phương thức đạp lúa bằng trâu, còn có hình thức đập bồ và máy tuốt hạt. Khi máy móc được đưa vào sử dụng, như máy suốt tay, việc thu hoạch lúa đỡ tốn công hơn rất nhiều. Dù vậy, đối với nông dân ngày ấy, thu về mười đến mười lăm giạ trên một công ruộng đã là một vụ trúng lớn.
Nếp cũ đồng quê Nam Bộ ẩn chứa biết bao điều thú vị và đáng nhớ. Từ những phong tục tập quán sinh hoạt hàng ngày, đến những phương cách mưu sinh trên các kênh rạch, tất cả tạo nên một bức tranh văn hóa sinh động. Đó là hình ảnh những chiếc xuồng câu nhẹ nhàng lướt trên kinh, là cánh diều tuổi thơ bay cao vút giữa nền trời xanh, và cùng với đó là những ước mơ bình dị, chân thật của người dân đất phương Nam.
