Menu Đóng

ĐBSCL: Văn minh kênh rạch, khai phá và ngôn ngữ con nước

Hình ảnh một chiếc ghe thương hồ chở đầy hàng hóa đang di chuyển trên kênh rạch miền Tây, chụp theo phong cách ảnh cổ điển sepia.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng đất Tây Nam Bộ rộng lớn và hệ thống kênh rạch chằng chịt, đã kiến tạo nên một nền văn minh sông nước độc đáo. Sự bồi đắp phù sa từ dòng Mekong huyền thoại không chỉ làm nên ruộng đồng màu mỡ mà còn định hình phong cách sống, ngôn ngữ và văn hóa chiêm nghiệm của cư dân nơi đây, khác biệt hoàn toàn so với các vùng miền khác trên dải đất Việt Nam.

Đặc trưng địa lý và dòng chảy Cửu Long huyền thoại

Vùng đất Tây Nam Bộ, chủ yếu là khu vực ĐBSCL, bao gồm vùng đồng bằng thấp và bằng phẳng, nổi bật với hai vùng trũng rộng lớn là Đồng Tháp Mười và U Minh. Xen kẽ đó là vài cụm núi thấp ở Thất Sơn (An Giang) và Hà Tiên (Kiên Giang), tạo nên sự đa dạng địa hình hiếm có.

Trung tâm của mọi sự sống và văn hóa nơi đây chính là hệ thống sông Mekong, hay còn gọi là sông Cửu Long – một trong những hệ thống sông lớn nhất châu Á. Dân gian thường gọi nhánh chính của nó là sông Lớn hoặc sông Cái khi chảy từ ngã tư Phnom Penh (Nam Vang) lên đến Lào. Đến Phnom Penh, sông Mekong chia thành ba nhánh chính: Tonlé Sap chảy vào Biển Hồ, cùng hai nhánh lớn đổ vào Việt Nam là sông Tiền và sông Hậu.

Sông Cửu Long kết thúc hành trình của mình bằng cách đổ ra Biển Đông qua chín cửa lớn, được ví như chín con rồng vươn ra biển khơi, tạo nên tên gọi Cửu Long (Chín Rồng). Chín cửa này bao gồm: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Định An, cửa Bát Xắc (Bassac) và cửa Tranh Đề. Từ đó mà có câu ca dao khắc sâu vào tâm thức người miền Nam:

Nam Kỳ sáu tỉnh em ơi,
Cửu Long chín ngọn cùng khơi một nguồn…

Mỗi khúc của sông Tiền và sông Hậu lại mang một tên gọi riêng thân thuộc, gắn liền với sinh hoạt địa phương như sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, sông Tiền, sông Hậu. Những dòng sông này đi vào ca dao như một lời tự tình sâu lắng:

Sông Tiền cá lội xòe vi
Chị Thúy Kiều sầu anh Kim Trọng tỷ như tui sầu mình.

Dấu ấn khai phá trên vùng đất mới

Lịch sử chinh phục vùng đất phương Nam đã bắt đầu từ thế kỷ 17. Thời điểm ấy, vùng cửa sông Đồng Nai và khu vực từ Sài Gòn trở vào vẫn còn là rừng rậm bạt ngàn, với địa hình chằng chịt kênh rạch, khiến việc đi lại chủ yếu phải dựa vào đường thủy. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt này được phản ánh qua câu ca dao quen thuộc, thể hiện sự gian truân của người khai hoang:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

Quá trình mở mang ĐBSCL là một cuộc hành trình từng bước. Danh nhân Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) đóng vai trò quan trọng trong việc khai phá. Năm Đinh Sửu (1817), ông nhậm chức trấn Vĩnh Thanh, mở mang Cù Lao Dài và kết hôn với bà Châu Thị Vĩnh Tế. Một năm sau, ông tổ chức đào kênh Đông Xuyên thông qua vùng Rạch Giá. Để tưởng nhớ công lao của ông, cư dân đã đặt tên núi và làng là Thoại Sơn (nay thuộc huyện Thoại Sơn, An Giang), và truyền tụng câu ca:

Ai về Châu Đốc quê em,
Thăm lăng ông Thoại, nhớ xem chùa Bà.

Từ năm 1821, khi làm án thủ đồn Châu Đốc, Thoại Ngọc Hầu tiếp tục tổ chức xây dựng làng mạc dọc theo bờ kênh Vĩnh Tế đến tận núi Sam (Châu Đốc, An Giang). Con kênh lịch sử này cũng đi vào lời ca trữ tình:

Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ
Nhớ ông Bảo Hộ cắm cờ chiêu an.

Hình ảnh ghe thuyền và những chuyến đi tha hương gắn liền với cuộc sống người dân: Chàng trai đi làm ăn phương xa vẫn canh cánh nỗi nhớ người yêu, hứa hẹn ngày đoàn tụ:

– Anh đi Châu Đốc, Nam Vang,
Gửi thư nhắn lại em khoan có chồng.

Đến cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thủy lợi. Những chiếc xáng đào kênh xuất hiện, thúc đẩy giao thông đường thủy phát triển mạnh mẽ. Hình ảnh chiếc xáng đã trở thành biểu tượng cho sự đổi thay của thời đại, đi vào câu hát ví von về tình yêu đôi lứa trên dòng sông Hậu:

Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ
Mấy lời to nhỏ: bạn bỏ sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia chết máy, anh mới đành xa em!

Văn minh kênh rạch và đời sống cư dân

ĐBSCL, với diện tích gần 4 triệu mẫu, bao gồm 12 tỉnh và thành phố Cần Thơ. Quá trình định cư diễn ra dần dần: từ việc thiết lập phủ Gia Định năm 1698, phát triển Hà Tiên năm 1724, đến việc hoàn tất vùng bắc sông Hậu vào năm 1757.

Chính môi trường sông nước hiền hòa, nơi phù sa bồi lắng quanh năm, đã sinh ra cái gọi là văn minh kênh rạch, văn minh miệt vườn. Ghe xuồng là phương tiện chủ đạo, gắn liền với mọi sinh hoạt, từ tình yêu đôi lứa đến kinh tế thương hồ:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo đêm đến rồi bờ bụi tối tăm!

Trên những dòng sông, xưa kia thường vang lên những câu hò đối đáp, gọi là hát huê tình, trong đêm trăng thanh gió mát sau vụ mùa bội thu. Đó là những lời hẹn ước giản dị, mộc mạc:

Chèo vô Núi Sập, lựa con khô cá sặt cho thiệt ngon, lựa trái xoài cho thiệt giòn.
Đem ra Long Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm.
Em về em dọn một bữa cơm
Để cho người quân tử ăn còn nhớ quê…

Vài mươi năm trước, tàu ghe là phương tiện vận chuyển chính. Con đường thủy nối liền các tỉnh thành, từ Long Xuyên đến Nam Vang, tạo nên sự nhộn nhịp của các thương hồ:

Long Xuyên nước ngọt gió hiền
Tàu xuôi Nam Hải, ngược miền Nam Vang
Thương hồ chiếc dọc chiếc ngang
Tiếng rao lảnh lót nhịp nhàng chèo khua …

Việc kiểm soát giao thông đường sông rất chặt chẽ từ thời Nguyễn Cư Trinh. Những chiếc ghe thương hồ bắt buộc phải được sơn màu và khắc địa danh lên mũi để tiện bề kiểm soát. Màu sắc ghe thuyền thậm chí còn mang ý nghĩa phân biệt dân cư:

Ghe ai đỏ mũi, xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?

Về sau, vào thời thuộc địa, người ta tô màu và vẽ số lên mũi ghe theo thứ tự các tỉnh, từ Gia Định số 1 đến Bạc Liêu số 20. Thứ tự này đã trở thành bài vè quen thuộc đối với người dân sông nước Nam Kỳ: Gia Châu Hà Rạch Trà; Sa Bến Long Tân Sóc; Thủ Tây Biên Mỹ Bà; Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc.

Từ đó, câu ca dao vẫn lưu truyền, nhắc đến những chuyến tàu mang số hiệu quen thuộc:

Chiếc tàu số một chạy ngang Vàm Cống
Chiếc tàu số hai chạy xuống Cần Thơ
Tuổi ba mươi ở vậy em chờ,
Lỡ duyên chịu lỡ, đóng cửa phòng đợi anh.

Bên cạnh ghe thương hồ, chiếc đò ngang, đò dọc là phương tiện chở khách qua sông, gắn liền với hình ảnh bến đò Tận Tạo, chợ Vĩnh, An Bình. Đời sống thương hồ cũng đầy gian truân, sống nhờ gạo chợ, nước sông, phải chịu cảnh tha phương cầu thực:

Tôi ở Trà Vinh nghèo quá,
Tôi chèo chiếc ghe vô Cà Mau, Rạch Giá.
Tôi mua ít tạ khoai lang, Tôi đi thẳng Trà Bang,
Tôi bán một tạ lời mấy cắc!
Tôi trở về nhà thấy anh ngồi sòng tứ sắc,
Tôi kể chắc ảnh thua rồi. Úy trời đất ôi!
Con đùm con đeo năm bẩy đứa,
Gạo em kiếm từ nồi anh có thấy không?

Ngôn ngữ và linh hồn của con nước miền Tây

Sự đặc thù của địa hình sông nước miền Nam đã sản sinh ra một hệ thống từ ngữ độc đáo để gọi tên các trạng thái của dòng chảy. Những từ ngữ này đã tồn tại hàng trăm năm trong lời ăn tiếng nói dân gian, phản ánh kinh nghiệm thủy văn phong phú của cư dân ĐBSCL:

  • Nước lớn: Là con nước từ nguồn chảy vào, làm đầy ắp các sông rạch. Báo hiệu qua tiếng chim bìm bịp: Bìm bịp kêu nước lớn em ơi, Mua bán không lời chèo chống mỏi mê!
  • Nước rông: Nước lớn đầy sông vào những ngày đầu và giữa tháng âm lịch (mùng một, mùng hai, mười bốn, rằm). Nước rằm chảy thấu Nam Vang Mù u chín rụng sao chàng bặt tăm?
  • Nước đầy mà: Nước lớn đã đạt mức đầy ắp cả sông rạch, chảy bon bon.
  • Nước nửa mà: Nước mới lớn được một nửa.
  • Nước ròng: Nước chảy từ ngọn đi ra sông lớn, đổ ra biển, khiến việc chèo chống nặng nề hơn. Nước ròng con cá trở về sông Liệu bề anh thương đặng gắng công đợi chờ.
  • Nước ròng sát: Mực nước thấp nhất, lúc mãn con nước ròng.
  • Nước giựt: Nước rút cạn đồng sau khi đã dâng vượt mức bình thường.
  • Nước kém: Nước rút cạn rạch vào những ngày mười một, mười hai, hăm mốt, hăm hai âm lịch.
  • Nước ương: Nước chảy lình bình, yếu ớt.
  • Nước đứng: Nước đã lớn đầy hoặc đã ròng cạn, hầu như ngưng chảy.
  • Nước nhửng: Nước bắt đầu chuyển sang ròng hay lớn, chảy từ từ.
  • Nước quay: Nước từ thượng nguồn bắt đầu đổi hướng, chảy một mạch ra biển, chuyển từ màu trong xanh sang màu đỏ đục phù sa, thường sau tiết Đoan dương.
  • Nước đổ: Nước chảy xiết ra biển từ khoảng tháng 6 đến cuối tháng 9 âm lịch.
  • Nước nổi: Tháng nước dâng cao vào mùa thu (từ tháng 8 âm lịch trở đi), làm ngập lụt phần lớn diện tích, đặc biệt ở Đồng Tháp Mười và U Minh.
  • Nước nhảy: Nước lớn tràn bờ vào ngày cuối mỗi tháng.
  • Nước chụp: Dòng nước bất thường đổ dồn về gây ngập úng mùa màng.
  • Nước son: Nước đổ mạnh, mang theo phù sa màu đỏ như son.
  • Giáp nước: Chỗ hai ngọn nước gặp nhau và khựng lại.
  • Nước vận: Nước quay vòng cuồn cuộn, thường gần chân cầu đúc, dễ nhấn chìm xuồng ghe nếu không vững tay chèo.
  • Nước xoáy: Ngọn nước quay vòng xoắn tròn rồi rút thóp xuống sâu.

Thiên nhiên hào phóng cùng với những dòng sông và con nước đã tạo nên một nét tính cách riêng biệt cho cư dân ĐBSCL, hình thành nên thái độ ứng xử thích hợp với môi trường miệt vườn. Từ đó, nơi đây đã kết tinh một nền văn hóa và văn minh sông nước độc đáo mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam có được.

ĐBSCL: Văn minh kênh rạch, khai phá và ngôn ngữ con nước

Posted in Dân gian

Bài tham khảo